Thứ Năm, 12 tháng 10, 2017

BUỔI GIỚI THIỆU SÁCH NHƯ MÔT HỘI THẢO KHOA HỌC

DIỄN ĐÀN




017001 BUỔI GIỚI THIỆU SÁCH
NHƯ MỘT HỘI THẢO KHOA HỌC

Ghi chép của Lê An Vi

       Ngày 07.10.2017, tại Làng Sinh Viên HACINCO, Thanh Xuân, Hà Nội, Trung Tâm Văn Hóa Minh Triết kết hợp với Trung Tâm Văn Hóa Đông Tây, tổ chức Buổi giới thiệu sách NHÀ TRIỆU - MẤY VẤN ĐỀ LỊCH SỬ của nhiều Tác giả, do Nguyễn Khắc Mai & Trương Sỹ Hùng đồng chủ biên.

       Trong không khí văn hóa đọc của Không gian Văn hóa Đông Tây (TTVHĐT), với sự hiện diện của gần bốn mươi vị khách mời là các nhà khoa học lịch sử, khảo cổ, Hán Nôm, ngôn ngữ, nhân chủng, kinh tế-chính trị, kiến trúc, các nhà nghiên cứu văn hóa lịch sử, đại diện Dòng Họ Triệu, các nhà giáo cùng các độc giả quan tâm sự kiện Nhà Triệu - Mấy vấn đề lịch sử.
       Buổi tọa đàm giới thiệu sách diễn ra sôi nổi ngay từ lời mở đầu rất tự nhiên của GS.TS Trương Sỹ Hùng, chia sẻ những trải nghiệm từ việc thu thập tài liệu cho ý tưởng mở hội thảo về Triệu Vũ Đế, đến xuất bản sách, Lễ dâng sách và đến buổi tọa đàm hôm nay. Ngay sau đó là hàng loạt các câu hỏi nối tiếp nhau, tạo một không khí thảo luận sôi nổi, thẳng thắn, cầu thị và hiểu biết lẫn nhau.
       Năm câu hỏi đặt ra từ phía độc giả được rút gọn trong ba câu:
1.     Triệu Vũ Đế là ai?
2.     Căn cứ bác bỏ Nhà Triệu khỏi chính sử Việt Nam thời VNDCCH. “Ai đang tâm xóa bỏ vị trí Nhà Triệu khỏi chính sử và nguyên nhân sâu sa của vấn đề” (nguyên văn câu hỏi)
3.     Nên căn cứ vào khoa học chứ không vào tâm linh để nghiên cứu lịch sử. (Trong đó xác định khái niệm quốc gia, dân tộc)

Trả lời
1.     Triệu Vũ Đế là ai? – Tiến sĩ Sử học Nguyễn Hữu Tâm, Viện Sử Học.
       Với tư cách là một chuyên gia chịu trách nhiệm nghiên cứu và biên soạn chuyên mục về nhà nước Nam Việt và Triệu Vũ Đế trong Tập I, Bộ Quốc Sử VN 15 tập. TS. Tâm trình bày theo chính sử Trung Quốc thì Triệu Đà là người nước Tần, được Nhà Tần điều xuống phía Nam làm Úy quận. Khi nhà Tần suy yếu đến sụp đổ, ông quyết định ở lại và xưng Đế tại Nam Việt Quốc. Bằng cách ứng xử khôn khéo với văn hóa và người Việt bản địa, từ cách ăn mặc, búi tóc, tiếp khách... và... lấy vợ Việt, sinh con cháu đến ba đời tại Nam Việt.
       GS, Băng Thanh, Nhà nghiên cứu văn học Việt Cổ chia sẻ phần nghiên cứu của mình về Sử gia Ngô Thì Sĩ trong tình huống chối bỏ vị trí của Triệu Vũ Đế trong lịch sử. Đó là liên quan đến việc con cháu Triệu Đà có quan hệ dễ dãi với Nhà Hán, dẫn tới Nam Việt rơi vào tay Nhà Hán. Có thể Triệu Đà không có lỗi, nhưng con cháu của ông đã gây hậu quả thì Nhà Triệu phải gánh chịu tất cả.
       GS. Băng Thanh nhấn mạnh, tuy không phải là người khai quốc, nhưng Triệu Đà đã làm nên kỳ tích là vị Vua nước Việt đầu tiên xưng Đế ngang hàng với nước Tần Hán đương thời. Sau này được Nguyễn Trãi ngợi ca và ghi nhận trong Bình Ngô Đại Cáo:  "Từ Triệu, Đinh, Lý, Trần bao đời xây nền độc lập Cùng Hán, Đường, Tống, Nguyên, Minh mỗi bên hùng cứ một phương".
      Như vậy, có thể nói Triệu Đà là người Việt gốc Chân Định, Nước Tần.
Lời bình:
-         Thực chất, khi lùi lại lịch sử, từ thời Hạ, Thương, Chu, Đại chủng Viêm Việt/Viêm Đế/Viêm Chủng đã làm chủ 18 tỉnh khu vực từ Nam s. Hoàng Hà đến s. Dương Tử với các tộc dân như Tam Miêu, Tứ Di, Cửu Lê và nhân rộng thành Man, Nam Man, Nhung, Địch, Kinh Dương, Kinh Man... Theo đó, nước Tần lại là một phần của  Viêm Việt với tộc Tây Nhung. Tây Nhung vốn là dân nông nghiệp nhưng sống trên địa hình đồng cỏ, sau trở thành dân du mục và biến tính thành dũng mãnh, hiếu chiến. Tách khỏi Nhà Chu, lập Nhà Tần, xóa bỏ Vương Đạo chuyển sang Bá Đạo và liên tục mở các cuộc chinh phạt các lân bang tới tận phía Nam.
-         Để hiểu thấu đáo cội nguồn lịch sử văn hóa Việt, quý vị có thể tìm đọc cuốn sách “Việt Lý Tố Nguyên” của Kim Định, NXB Hội Nhà Văn 2017.

2.     Căn cứ bác bỏ Nhà Triệu khỏi chính sử. – Nhà nghiên cứu Tạ Đức
       Nhìn chung, các ngành khoa học ở Việt Nam đều bị chi phối hay phụ thuộc vào chính trị, nhất là khoa học xã hội nhân văn. Một sự thật hiển nhiên rằng,  từ cổ chí kim, sự ghi chép chính sử luôn theo ý chí của chính thể cai trị, triều đình, nhà nước hay ý chí của một vị vua, một thủ lĩnh của một quốc gia.
       GS.TS Trương Sỹ Hùng đưa ra dẫn chứng cụ thể cho rằng nhóm lãnh đạo chủ trương loại bỏ Nhà Triệu trong cuốn Lịch sử Việt Nam Tập I, 1971, đã bất chấp lịch sử từng công nhận vai trò khai quốc của Triệu Vũ Đế trong Đại Việt Sử Ký Toàn Thư của Lê Văn Hưu, Bình Ngô Đại Cáo của Nguyễn Trãi, Việt Sử lược của Trần Trọng Kim, Bài ca Việt Minh của Hồ Chí Minh.
Câu trả lời này quý vị độc giả có thể tìm đọc ngay trong cuốn sách đang giới thiệu. (Bài “Xác định lại vai trò của Nhà Triệu trong lịch sử Việt Nam” tr.74)

3.     Nên căn cứ vào khoa học chứ không vào tâm linh để nghiên cứu lịch sử. – GS.TS Trương Sỹ Hùng
       Với quan điểm học thuật chuyên ngành, vị giáo sư chỉ rõ nguồn sử liệu nước ta từ nghiên cứu khoa học lịch sử và nhân văn rất hạn hẹp, trong khi nguồn sử liệu phong phú và khá đầy đủ lại ở trong kho tàng văn hóa dân gian, nhất là lĩnh vực tín ngưỡng & tôn giáo, chiếm hơn sáu mươi phần trăm tổng số tư liệu. Một kho tư liệu đồ sộ bao gồm ca dao, tục ngữ, cổ tích, huyền thoại, truyền thuyết, truyền kỳ, lời du, diễn xướng dân gian, thói tục, tín ngưỡng, tôn giáo, định chế, phép tu luyện... còn đang bỏ ngỏ.
       Thực tế, cần phát triển hài hòa để khoa học và truyền thống bổ sung cho nhau. Nhất là sự phát triển & thành tựu khoa học công nghệ gene ADN, CNTT và khoa học lượng tử hiện đại đã trợ giúp đắc lực trong nghiên cứu nguồn gốc loài người, hành trình của nhân loại và thế giới tâm linh bí ẩn của con người. Khoa học lượng tử cho thấy, thế giới ảo, siêu hình hay siêu siêu hình luôn giữ vai trò điều khiển thế giới hữu hình, đúng như lời phát đoan của Thuyết Âm Dương - Âm là yếu tố sinh, Dương là yếu tố thành của vạn vật.

      Xác định quốc gia, dân tộc trong việc đánh giá lịch sử.
      Trước hết, cần chia sẻ với nhau về cách tiếp cận những đối tượng lịch sử văn hóa trong dòng chảy không thời gian. Chủ thể tiếp cận, nghiên cứu, khảo cứu, đánh giá... cần có những kiến thức cơ bản về những môn khoa học Tân Nhân Văn như Triết, Cổ Sinh, Khảo Cổ, Nhân Chủng, Cổ Ngữ, Cổ Sử, Tâm Lý miền sâu, Cơ cấu, Công Nghệ Gene, Lượng Tử... Hơn thế nữa là khả năng kéo dài trực giác chạm tầng siêu thức, tức dùng con mắt thứ ba hay giác quan thứ sáu để khám phá thế giới ngôn từ tế vi “ý tại ngôn ngoại”, bầu khí văn hóa “Vô ngôn” (Muthos), đến thế giới vô hình/siêu hình (Metaphysic) của huyền sử.

     Trong phần phát biểu bổ sung, TS. Nguyễn Văn Vịnh có lời xin lỗi đến các vị giáo sư, tiến sĩ, các học giả, rằng ngành KHXHNV VN từ 1945 đến nay chịu sự ảnh hưởng nặng nề vào phương pháp luận duy vật Mác-Lê cứng nhắc, phi thực tiễn, duy đối đầu chứ không đối thoại. Cho nên bị lâm vào tư duy đóng khung, bế tắc trước thế giới siêu hình, rất khó từ bỏ. Trong khi thế giới muôn hình vạn trạng đang vận động, biến đổi từng ngày. TS. Vịnh cũng nhấn mạnh bản chất của Nhà Tần (221 TCN-206 TCN), từng là tộc thiểu số Khuyển Nhung thời Nhà Chu, từ nông nghiệp biến tướng sang du mục. Với tính cách Bá Đạo tham tàn đã nổi lên dùng vũ lực ép buộc và sáp nhập sáu nước xung quanh để thành đại vương Tần.

       Đa số những ý kiến trái chiều thường mắc lỗi về vị trí, thời gian và phương pháp luận của chủ thể nhận định, đánh giá sự biến lịch sử. Những chủ thể ấy với tư cách Việt Nam bây giờ và trên vị trí lãnh thổ hình chữ S nhỏ bé hiện nay, đứt mạch với truyền thống ngàn đời, sẽ làm vị thế Việt Nam vô cùng nhỏ bé, yếu kém đến nhu nhược trước “Giấc mộng Trung Hoa” đầy âm mưu đang gặm nhấm và sáp nhập Việt Nam thành một tỉnh lỵ của Trung Quốc. Về văn hóa, ta mang theo mình mặc cảm là kẻ mượn chữ viết nhờ, sinh sau đẻ muộn lại còn đòi ly khai khỏi Đại Quốc. Nỗi nhục ngàn năm này Việt Nam vẫn chưa rửa được, bởi cái tư duy tiểu nhược, tự ti với chỉ có bốn ngàn năm lịch sử và ranh giới từ Lạng Sơn đến Cà Mau.
       Chừng nào với người Việt nào, còn vương vấn mặc cảm và sự yếu hèn thì chỉ chuốc lấy thất bại ngay trên bàn đàm phán với Bắc Phương và với cả những quốc gia đàng hoàng và thiện chí khác.
       GS.TS Trương Sỹ Hùng chia sẻ ý tưởng và mục đích của Ban biên tập cuốn sách là đưa ra những chứng cứ bằng văn bản, di vật, hình ảnh từ những tư liệu quý hiếm một cách khách quan, trung thực và không kết luận hay khẳng định để công chúng rộng đường bàn luận.
       Một tình cảm bày tỏ sự cung kính trước anh linh Triệu Vũ Đế của người con Đồng Xâm, Thái Bình, ông Nguyễn Gia Thắng. Trong lời phát biểu của mình, ông cho rằng Dân Tộc và Đất Nước này rất cần và trân trọng những người con đức độ, tài ba và dũng cảm hiến dâng sự nghiệp và bản thân, bất kể họ là ai. Và Triệu Vũ Đế là một tấm gương làm rạng rỡ Đất Việt, luôn sống mãi trong lòng Đại tộc họ Triệu và Bà con Đồng Xâm.

       Nhà nghiên cứu Nguyễn Khắc Mai kết thúc bằng một cảm nhận linh thông tin, rằng phảng phất đây đó linh hồn Triệu Vũ Đế đang lan tỏa một năng lượng kỳ diệu, đồng điệu với chúng ta trong thời khắc đáng ghi nhớ này.

LAV, 12.10.2017
      


       

Thứ Bảy, 9 tháng 7, 2016

GIÁ TRỊ VĂN HÓA VIỆT

GIÁ TRỊ VĂN HÓA VIỆT




TRIẾT LÝ NHÂN BẢN TÂM LINH
CỦA VĂN HÓA VIỆT & CHÚNG TA

A.      Vũ Trụ Quan
-        Vô Cực > Thái Cực > Lưỡng Nghi > Tứ Tượng > Bát Quái > Vô Cùng
-        Nhất Âm Nhất Dương Chi Vị Đạo
-        Đại Đạo Âm Dương Hòa
-        Vũ Trụ Vạn Vật Nhất Thể >> Ngũ Hành Cơ
-        Tam Tài: Thiên, Địa, Nhân

B.      Lý và Huyền Số
-        Dịch Lý là Thiên Lý/ Dịch: Nghịch Lý Chi Số
-        Bộ Huyền số Vài, Ba, Năm >> Nhất, Vài, Ba, Năm, Cửu
-        Tham Thiên Lưỡng Địa (nhi ỷ số)
-        Vạn Giáo Nhất Lý
-        Thần Vô Phương

C.      Nhân Sinh Quan
-        Vũ Trụ Chi Tâm
-        Nhân Chủ, Thái Hòa, Tâm Linh
-        Trông Trời Minh Thời  >> Chín Cái Trông
-        Biết Đủ Không Tham
-        Không sợ thiếu chỉ sợ không công bằng
-        Tình Lý Tương Tham << Âm Dương Tương Thôi
-        Lòng Nhân Ái  cứu cả Thế Giới
-        Tự Do, Dân Chủ, BÌNH SẢN
-        Trí Tuệ, Bản Lĩnh, DẤN THÂN.

     Trên đây là thứ tự các giá trị phổ quát của Văn Hóa Việt từ tầm vĩ mô Vũ Trụ Quan tới vi mô Nhân Sinh Quan thông qua các Phép/Nguyên Lý/Quy Luật của Dịch Lý và Lý Số/ Huyền Số, tạo nên bức tranh sinh động của Văn Hóa Việt, vận động và phát triển trong thế Quân Bình Động của vạn vật trong Vũ Trụ mênh mông.  

A.Vũ Trụ Quan

1.     Vô Cực > Thái Cực > Lưỡng Nghi > Tứ Tượng > Bát Quái > Vô Cùng
     Lời Phát đoan của Dịch: “Thái cực sinh Lưỡng Nghi (Âm Dương ), Lưỡng Nghi sinh Tứ Tượng ( Thái Âm, Thái Dương, Thiếu Âm Thiếu Dương ), Tứ Tượng sinh Bát quái, ( Kiền , Khảm, Cấn, Chấn, Tốn, Ly, Khôn, Đoài ), nhi Biến hoá vô cùng”.
2.     Cặp đối cực - nguyên lý Nhất Âm Nhất Dương Chi Vị Đạo.
   Âm Dương được dùng làm biểu tượng tổng quát cho các cặp đối cực trong Vũ trụ. Khi Âm Dương “tương thôi“, nghĩa là xô đẩy níu kéo nhau, không bên nào thắng hẳn… giúp luôn đạt tới trạng thái quân bình động, được gọi là “Đại Đạo Âm Dương hoà”. 
     Khi các cặp đối cực Giao thoa hay Giao chỉ, Giao hợp  để đạt trạng thái Quân bình động thì ta có nét Lưỡng nhất hay Song trùng lưỡng hợp.  Khi các cặp đối cực đạt thế Quân bình động thì có tính chất Tiến hoá và Trường tồn nghĩa là Thái Hòa.
     Theo Nho thì Quy tư và Suy tư là Nghịch lý, hay là cặp đối cực (opposite term), nếu cặp đối cực có được sự cách biệt thích hợp (3 / 2: Tham Thiên lưỡng Địa nhi ỷ số) thì trở nên một trong muôn vàn nét Lưỡng nhất, nét Lưỡng nhất ( dual unit )  là “Mạch lạc nội tại, là “Nét Nhất quán“ xuyên suốt nền Văn Hóa Việt.
     Đây là lối Sinh hoạt giúp con Người lập được mối liên hệ Hoà với Trời Đất, tức là mối liên hệ hàng Dọc, (Cao minh phối Thiên) nhờ vốn liếng quý giá này mà con Người có thể sống Hoà với nhau, (Bác hậu phối Địa)  đây là mối  liên hệ Hàng Ngang. Khi hai mối liên hệ Dọc Ngang hài hòa thì Vũ Trụ Hòa. (Cosmic rhythm : Tiết nhịp Hòa của Vũ trụ)
     Tổ tiên chúng ta dùng Biểu tượng Bình dân  (Chất gia) và câu văn Bác học  (Văn gia) để giúp người nào cũng có cách dễ tiếp thu Nguồn gốc của Văn Hoá :
- Biểu tượng “ Mẹ Tiên Âu Cơ: Non Nhân“ được dùng để  thay  cho câu  “Cao minh phối Thiên” của Văn gia. Mẹ Âu Cơ được ví như chim Tiên phải sống sao cho bớt Lượng thêm Phẩm cho nhẹ đi, mới bay được Lên Non cao  vắng vẻ yên tĩnh mà un đúc Lòng Nhân, Nhân là Tình Yêu bao la  (hay Lòng rộng) u linh man mác.
- Biểu tượng “Cha Rồng Lạc Long: Nước Trí“ thì được Văn gia gọi  là “Bác hậu phối Địa“. Cha Lạc Long được ví như Rồng, phải tung lên Không trung làm mưa làm gió và lặn sâu Xuống Biển biến động  của thế giới Hiên tượng để phát triển Lý Trí cho được Chu tri. (Trí sâu). Lý thì rõ ràng, khúc chiết.
- Biểu tượng “Con Hùng Vương: Hùng Dũng” là kết tinh của Mẹ Nhân, Cha Trí, nên được Hùng Dũng. Dũng (Nghĩa khí chi dũng) tức là Mạnh phần Hồn, Hùng là sức mạnh Thể Xác (Huyết khí chi dũng), có thế mới nên con Người Nhân chủ, có khả năng Tự Chủ, Tự Lực, Tự Cường để làm Chủ Vận hệ mình, Gia đình mình và Đất Nước mình.
     Vì vậy muốn là con cháu của Vua Hùng thì cũng phải bỏ “Tham, Sân, Si“ để có Lòng  rộng hay Nhân đồng thời phải lăn lộn vào Đời học hỏi không ngừng để có sự hiểu biết viên mãn, gọi là Trí sâu hay Nghĩa, không có Lòng rộng và Trí sâu thì mất Bản tính con Người, trở nên Vô thần, chỉ làm tôi đòi cho Ma Quỷ. Tiền Nhân cũng nhắn nhủ: “Nhân giả kỳ thiên địa chi đức quỷ thần chi hội”, tức Người là nơi hội tụ Đức Trời Đất, cũng là nơi hội tụ của Ma Quỷ.
3.     Tam Tài Thiên Địa Nhân
     Thiên Địa Nhân là cơ chế bình đẳng, hài hòa và đương nhiên ở thế Quân Bình             Động của vòng quay Vũ Trụ. Với tầm nhìn xuyên suốt hàng dọc Thiên Địa Nhân, Triết Lý An Vi cho rằng Trời là chủ, Đất là chủ thì Con Người cũng là chủ, bởi thế giới này tồn tại và trường tồn không thể thiếu một trong ba yếu tố trên. Âm/Đất/Mẹ tương thôi với Dương/Cha/Trời sinh ra Nhân/Người/Gái, Trai.
     Tổ Tiên ta đã gửi gắm êm đẹp Tam Tài trong hình tượng Mẹ/Non/Nhân, Cha/Nước/Trí sinh Con Hùng Dũng, Đảm Đang (Trai Tài, Gái Đảm).
     Nối tiếp cha ông, Cư sĩ Trần Cao Vân gửi gắm trọn vẹn trong bài thơ thất ngôn bát cú “Vịnh Tam Tài”, thể hiện Nhân Chủ Tính của Triết Lý Việt:
“Trời Đất sinh Ta có ý không
Chưa sinh Trời Đất có Ta trong
Ta cùng Trời Đất ba ngôi sánh
Trời Đất in Ta một chữ Đồng
Đất nứt  Ta ra Trời chuyển động
Ta thay Trời mở Đất mênh mông
Trời che chở Đất Ta thong thả
Trời Đất Ta đây đủ hóa công”.
     Và còn vô số những biểu tượng Triết Lý Nhân Bản trong đời sống Văn Hóa Việt từ cổ tới kim.  
4.     Vũ Trụ Vạn Vật Nhất Thể >> Ngũ Hành Cơ
     Vũ Trụ Vạn Vật Nhất Thể tạo nên cơ cấu Ngũ Hành.
                           Hỏa/Nam
                                   
Mộc/Đông ← Thổ/Trung Tâm → Kim/Tây
                                   ↓
                           Thủy/Bắc
Hồng Phạm có nhấn mạnh hành Thổ bằng cách thay chữ “Viết“ bằng chữ “Viên“;
Thủy viết nhuận hạ: Tính chất của nước là nhuần xuống
Hỏa viết viêm thượng: Tính chất của Lửa là bốc cháy lên
Thổ viết giá sắc: Thổ ở trong giá sắc ( Gieo gặt )
     Thổ không có việc thẳng mà chỉ ở trong hai việc của Người ( gieo gặt ) như thế là Thổ không có làm cũng y như là Thổ không có mùa riêng. Có Xuân, Hạ, Thu, Đông cho 4 Hành kia mà không có mùa thứ 5 cho Thổ, cũng như Thổ không có Phương Hướng thứ 5. Do đó mà có một số học giả cho Thổ là phụ thuộc vì không có Việc, không có Mùa, không có Phương ( Xem Legge S.29 + 230 ), nhưng với Triết Đông đó là chỗ đặc biệt của Hành Thổ. Chính vì Thổ không có phương nên mới Thần diệu. Vì Thần vô phương nghĩa là vượt Không Thời gian nên mới được tôn lên bậc Hậu Thổ, đại diện cho Hoàng Thiên ở chung một cung: Đó là danh dự không hề bao giờ dành cho các Hành kia. Chính vì Thổ là Hành vô địa, không Phương riêng, không Mùa riêng, nên Thổ mới có thể che chở mọi Hành và vượt lên mọi Hành để ở vào một bình diện khác hẳn tức là siêu việt, vô hình :           “ Hành vô hành “.

B.   Lý và Huyền Số
     Lý và Huyền Số là công cụ, phương tiện để luận và giải về con người, sự vật, hiện tượng của đời sống.
1   1. Về Lý 
      Khó mà kể hết, bởi có bao nhiêu sự vật hiện tượng thì có bấy nhiêu cái lý để lý giải chúng. Có thể bắt đầu từ Kinh Dịch, Thái Ất Thần Kinh/ Độn Giáp, Tử Vi, Tử Bình, Kỳ Môn Độn Giáp, Bát Tự, Phong Thủy, Tướng Số, Độn Toán, Bốc Dịch, Tướng Pháp, Cảm xạ - Tâm Linh đến Thông Thiên v.v.
     Điển hình căn bản nhất vẫn là Kinh Dịch, người Việt cổ gọi là Kinh Diệc, rồi Kinh Việt, sau có Kinh Dịch họ Hùng.
     Kinh Dịch có thể nói là một trong những Kinh Vô Tự còn gọi là Sách Ước Trời ban cho những cư dân đầu tiên sống trên vùng đồng bằng những con sông lớn như sông Cái (S. Hồng), đến Nam Dương Tử và lên mãi tới lưu vực sông Hoàng Hà của Đại chủng Viêm Việt, còn gọi là Viêm Chủng hay Nhật Chủng, gồm những tộc người Việt cổ đầu tiên như Tam Miêu, Cửu Lê, Tứ Di.
     5 giai đoạn của  Kinh Dịch:
Giai đoạn I . Dịch thiên nhiên hay Ðạo Dịch của Trời Ðất. 
     Tức hồn Dịch gặp được trong các Huyền thoại đầy chất Lưỡng Hợp như truyện Ông Cồ Bà Cộc, Núi Sông, Nước Lửa, Tiên Rồng . . .
Giai đoạn II. Dịch của Phục Hy
     Thành bởi nét Đứt ( - - ) và nét Liền (― ) ghép thành 8 quẻ đơn, mỗi quẻ có 3 nét. Ðó là bộ số Vài, Ba, Năm .
Giai đoạn III . Dịch của Ông Ðại Vũ đúc Cửu đỉnh
     Tức là thêm vào vòng Trong năm số Sinh bốn số Thành nữa là chín, cũng gọi là Cửu Lạc ( số Cửu/Chín của dân Lạc ) .
Giai đoạn IV.  Dịch của Văn Vương
     Bắt đầu có Văn tự, đó là những lời giải nghĩa 64 quẻ gọi là Hào từ hay Thoán/Soán từ.
Giai đoạn V.  Dịch của Khổng Tử có thêm Thập Dực.
     Nổi nhất trong đó là Hệ từ đại truyện có giá trị triết lý siêu hình.  Xưa nay người ta chỉ biết có giai đoạn IV và hầu hết nó đã trở thành sách bói toán và ma thuật. Giai đoạn V được chú ý chút ít. Chí như 3 giai đoạn trước thì hầu như không có ai nói gì tới và đấy là chỗ cắt nghĩa sự sa đọa của Nho là vì Ðạo là cái gì linh thiêng siêu việt không thể dùng ngôn từ hữu hạn mà nói được, “nói được thì không phải Ðạo thường hằng nữa ”, mà chỉ là Ðạo phù phiếm thuộc vòng ngoài.
     Vì thế “Tri giả bất ngôn” người biết Ðạo không nói mà chỉ dùng một hai dấu hiệu, vài ba con số để chỉ thị rồi yên lặng. Ðó là lý do tại sao các đạo lý Phương Ðông quý chữ Trống rỗng, Hư tâm, Vô thể. Vì thế Kinh Dịch khởi đầu chỉ có số vài và ba, đến sau mới thêm lời vào. Vậy mà các thế hệ sau lại chú ý nhiều về lời, thành ra chỉ chuyên ngọn mà bỏ gốc. Nay muốn tìm lại Ðạo Uyên Nguyên thì phải học về bộ huyền số trong Kinh Dịch.
2    2. Về Số
            Bộ Huyền Số Vài, Ba, Năm, Chín
     Trong hệ thống  thập phân thì những con số 2, 3, 5, 9 là quan trọng, những số đó là số nguyên tố, tức là số học trọn vẹn không thể chia cắt. Trong khi Tổ Tiên Việt đã dùng bộ Huyền số Vài, Ba, Năm, Chín vì nó mang theo trong mình ý nghĩa nền tảng của nền Văn Hóa, biểu tượng cho Thiên Lý hay Dịch Lý.
     Vì chưa  có Văn tự nên Tổ Tiên Đại Chủng Việt đã cất dấu bộ số Huyền niệm trong nhiều lãnh vực để khỏi bị mai một, nhất là chống lại âm mưu tiêu diệt Văn Hóa của Tàu .
-         Vài nói Hai, biểu hiện qua Ngọc Long Toại là cặp Trống Mái, được chôn dấu
trong đất mà tia sáng chiếu thẳng lên Trời, các nhà Vọng khí đều biết hòn Ngọc Long Toại còn ở phương Nam. Đây là lời nhắn gửi  kín cho cháu con cháu về nguồn gốc Văn Hóa Dân tộc, chỉ có con cháu mới hiểu, còn người ngoài khó nhận ra. ( Xin xem truyện Việt Tỉnh )
-         Vài Ba, nét Lưỡng Nhất
     Nữ Oa cầm cái Quy (┼: vẽ Vòng Tròn, compa), Phục Hy cầm cái Củ  (┘: vẽ hình vuông, êke), khi chết Nữ Oa biến thành chim Tinh vệ thuộc nòi Tiên, Còn Phục Hy biến thành Thanh tinh tức Rồng Xanh, hai bên giao chỉ nơi đuôi, hay giao thoa thành nét Lưỡng Nhất. Đây là hình ảnh của hình vuông ngoại tiếp, mà Cha ông ta đã ví von là “Mẹ Tròn con Vuông”.
   Tuy hai nhân vật Văn Hóa này có trong Cổ sử  Tàu, là do họ đem vào sử của họ, nhưng hai nhân vật này lại thuộc nòi Tiên Rồng của Chủng Việt. Không những Nữ Oa, Phục Hy, mà cả Thần Nông, Hữu Sào, Nghiêu, Thuấn cũng như Bàn Cổ  đều là những nhân vật Văn Hóa thuộc Nông Nghiệp, do các nhà sử Tàu mới đem vào sử của họ, nhân vật càng xưa lại được đem vào sau hết. Nhân vật xưa nhất là Bàn cổ được Từ Chỉnh đem vào thời nhà Hán.
     Hòn sỏi ở Ngưỡng Thiều, hai hòn để nhẵn, ba hòn để thô. Cây Phủ Việt: bên trên là hai Giao Long (Rồng) “cài hoa kết hoa”  nghĩa là giao thoa nhau,  bên dưới có hình ba người  đầu mang lông Chim (hoá trang thành Tiên), hay ba con nai chà  (nai  Lộc, Lộc Tục). Đây cũng là nơi tộc Việt cất dấu bộ số huyền niệm, hai-ba, vì là Cơ cấu của nền Văn Hóa Đông Nam (Mộc số ba, Hỏa số hai).  Cái Phủ Việt mang Danh tính là Việt  và Thể tính là hai-ba. Cái Tước hai quai, ba chân.
-         Ba là bộ ba cái Chạc (đồ tùy táng giống cái ly uống nước ), bao giờ cũng tìm được bộ ba. 
   Con số ba quan trọng đến độ định tính sự vật, nên biến thể nhiều vật như cóc và chim tìm được ở Ðông Sơn có miệng nhọn, tức ba góc, gà ba chân, cóc cũng ba chân. Để lên chức cậu ông trời ( phải rụng một chân ).
-          Năm là Ngũ Hành, Ngũ Sắc, Ngũ Luân, Ngũ Thường.
     Ðó là bộ số chỉ trỏ sự Quân bình Vũ Trụ : Trời ba , Ðất hai. Vẽ ra là hình Thập tự nhai ┼ gồm nét Ngang là hai Ðất, cộng với nét Dọc là ba Trời thành ngũ hành là số năm. Hoặc cùng vẽ là hình tức là Tròn trên Vuông hay Tròn bao lấy Vuông.  Xã hội theo quy chế Bình sản không có chế độ nô lệ. Hỏi ai là chủ bộ số hai – ba này trước thì đó là Việt.    
-         Cửu/Chín, là Cửu Cung, Cửu Đỉnh, Cửu Trùng… là số thành từ các số sinh bốn và năm hay ba tầng của Ba là Chín/Cửu. Cửu cũng là số Trời.

C.   Nhân Sinh Quan
1.  Nhân Chủ, Thái Hòa, Tâm Linh           
     Trên thế giới chỉ có Việt Nam có nền Văn Hóa sóng đôi thống nhất của Chất gia và Văn gia. Chất gia có kho tàng Huyền Thoại, Ca dao, Tục ngữ, Lời du…  Cả hai đều đồng quy vào  “Gốc Nhân Nghĩa“. Văn gia có Kinh Điển với Tứ Thư, Lục Kinh, (có phần khác với Hán Nho của Tàu),
     Vì sống theo Nghề Nông, Tổ Tiên chúng ta luôn quan chiêm Thời tiết / Trông Trời mà Minh Thời để việc gieo trồng được kết quả. Tổ tiên chúng ta chưa tiến tới nếp sống “đi trên đại lộ huy hoàng“ như  các Dân tộc Văn minh, mà chỉ “đi trên những con đường truyền thống“, bắt đầu làm những việc từ Gần tới Xa, từ Nhỏ tới To… mà từ từ vươn lên từ Lượng tới Phẩm giúp cho cuộc sống siêu việt (Dân tộc chọn tên Nước/Nác/Lác/Lạc là Tộc Việt ở phương Nam còn gọi Lạc Việt) để làm người Nhân Chủ, biết sống tự Chủ, tự Lực, tự Cường hầu làm Chủ Vận hệ mình, Gia đình mình và Đất Nước mình.  Nhờ thế, mà con dân trong nước có đủ Tư cách và Khả năng biết Yêu thương Đùm bọc lấy nhau, Đoàn kết với nhau để Dân tộc có đủ Nội lực mà Dựng Nước và Giữ Nước. Tạo nên những giá trị nhân bản mẫu mực và vững bền. Đó là:
Nhân Chủ, Thái Hòa, Tâm Linh
     Nhân chủ như đã phân tích trong cơ cấu Tam Tài, Nhân Chủ tức người là chủ nhân của chính mình, gia đình mình, Đất Nước mình và chủ nhân của Thế Giới.
     Ngày nay, nhân chủ tính hay con người nhân chủ bị triệt tiêu bởi cơ chế vô hình mà chính chúng ta không vượt qua được. Câu hỏi đặt ra, Việt Nam có trí tuệ không? Tại sao không. Có bản lĩnh không? Tại sao không. Nhưng cái quan trọng nhất là quyết định Dấn Thân. Chúng ta chưa đủ can đảm để quyết định dấn thân, nên chúng ta cùng nhau, bám nhau để chìm xuống đáy.
     Trí khôn thì có đủ, song dũng cảm chưa tới thì phải nhờ Trời vậy thôi (!?)
     Thái Hòa là không gian để vạn vật hòa với nhau, tương tác mà phát triển trường tồn.
     Tâm Linh là là hệ quả của những việc làm từ nhân tâm, an nhiên tự tại, đã dâng hiến cho đời, trở thành cao quý, đáng trân trọng, vượt không thời gian và trở thành giá trị linh thiêng, là tấm gương cho muôn đời. Tâm Linh cũng là Nguồn Sống và Nguồn Sáng của cuộc sống chúng ta.
     Từ những giá trị nhân bản nền tảng, sản sinh ra hàng loạt những giá trị tiếp nối với những ý nghĩa thực tiễn đã đi sâu vào tiềm thức con người trong đời sống nông nghiệp từ buổi sơ khai.
     Biệt tài của người Phương Đông là “Trông Trời Minh Thời”. Thời đây là thời gian, thời thế, thời vận và thời tiết mang tính tổng hòa của triết lý nhân sinh hoàn hảo, áp dụng vào thực tế đời sống và đã đạt ngưỡng huyền đồng. Đơn cử một cách minh thời trong chín cái Trông của người Việt: “Trông trời trông đất trông mây/ Trông mưa trông gió, trông ngày trông đêm/ Trông cho chân cứng đá mềm/ Trời yên biển lặng mới yên tâm lòng”.
    Chín cái Trông thể hiện một Vũ Trụ Quan ứng dụng vào đời sống nông nghiệp lúa nước, để rồi từ đó cái kinh nghiệm sống này truyền cho muôn thế hệ, một khi con người vẫn có nhu cầu tới lúa. Đây cũng là nội dung giáo dục tính kiên nhẫn, cần cù và kính trọng sức lao động đáng quý của nhà nông – để có một hạt lúa phải mất đến Chín Cái Trông như vậy.
     Khi thấu hiểu quy luật xoay vần của Tạo Hóa, người Việt biết kiềm chế những yếu tố thái quá của nếp nghĩ ích kỷ, tiểu tiết, manh mún dẫn đến tranh giành, xung đột, mất đoàn kết trong triết lý “Không sợ thiếu, chỉ sợ không công bằng” và cũng an ủi nhau một cách tế vi “Không ai giàu ba họ, không ai khó ba đời”. Đây là một nguyên tắc kiềm chế đối trọng để giữ công bằng xã hội, mang chuẩn mực nhân văn cao cả, tránh được cái nạn  “Kẻ ăn không hết, người lần chẳng ra” (hệt như bức tranh đang diễn).
     Một cái nhìn Minh Triết đã nâng cao Giá Trị Nhân Bản Tâm Linh Việt vượt không gian và thời gian, trở thành Giá Trị Phổ Quát Nhân Loại, đó là  “Biết đủ không tham”. Lẽ đương nhiên khi loài người biết đủ không tham thì thế giới sẽ an bình dài lâu.
     Xin thưa, trước cái lòng tham vô đáy của con người, vốn dĩ bản năng. Từ xa xưa, trong các phép ứng xử, người Việt đã biết toại lòng nhau bằng cách ăn ở phải người phải ta, rồi tình lý tương tham, để lòng nhân ái cứu cả thiên hạ. Người Việt cũng bảo nhau từ tốn, nhã nhặn và yên tâm trong triết lý “Cho là Nhận” một cách an nhiên tự tại. Đức tính này đã trở thành kinh điển trong lời dạy của Bụt để tránh tham, sân, si.
     Tất cả những giá trị Vũ Trụ Quan và Nhân Sinh Quan được cụ thể hóa trong chính sách cai trị Đất Nước bằng cơ chế Bình Sản.
     Đây là vấn đề cũ rất cũ, cũ nhất trong những nền văn hoá xưa nhất của thế giới. Nhưng “Mới là cái Cũ chưa biết”, nên nó rất hợp với thời đại khoa học tân tiến ngày nay, vì gồm cả Khoa học Tự nhiên, (nhất là hệ thống Nhị phân: Binary system), Phép Lập trình và Khoa học Tân Nhân Văn như Cơ cấu luận, Tâm lý miền sâu, Khảo cổ học, Di truyền học. ..  
2Lưỡng Nhất Tính hay Nét Gấp Đôi của Nền Văn Hóa  
     Triết gia Kim Định đã  khám phá  ra vai trò quan trọng của “Nét Lưỡng Nhất” của Dịch lý trong Nho, nét này được tìm thấy trong Cơ cấu của Văn Hóa Đông - Tây, giúp chúng ta tiến tới một cuộc Tổng hợp Đông - Tây - Kim - Cổ. Nét Lưỡng nhất (dual unit) là nền tảng của nền Văn Hóa Thái Hòa Việt Tộc, giúp con Người sống Hòa với nhau.  
Nét Lưỡng nhất cũng là nền tảng của triết lý An Vi là triết lý Hoà giải của Triết gia Kim Định.
     Nét Lưỡng Nhất là các cặp Đối cực: Nhỏ / To, Gần / Xa, Đơn Giản / Phức tạp, Tầm thường / Phi Thường, Không gian / Thời gian, Vũ / Trụ, Tán / Tụ  Tinh vi / Vĩ đại. . . đều  được kết hợp hài hòa làm thành nét Lưỡng Nhất, nên trong Nhất có Đa và Trong Đa có Nhất.
     Nét Lưỡng nhất rất quan trọng, vì nếu không có các cặp đối cực như Gái / Trai, Cái / Đực, Mái / Trống, Nhụy Cái / Nhụy Đực kết hợp hài hòa với nhau mà “Sinh Sinh Hóa Hóa“ thì Quả Đất này chỉ là một bãi Sa mạc mênh mông.
    Trong lãnh vực Văn Hóa Dân tộc, ngoài triết gia Kim Định, ít nhà nghiên cứu Văn Hóa đi tới tận nền Cơ cấu. Việt Nho có :
1. Cơ cấu là bộ Huyền số: Vài - Ba, Năm
2. Nội dung : Thái Hoà, Nhân chủ, Tâm linh ( tức Vũ trụ quan và Nhân sinh quan )
3. Đạt quan :  Phong thái An Vi siêu thoát.

CHÚNG TA

LIÊN HỆ TỚI NGÀY NAY. Với chiều dài Lịch Sử Văn Hóa Vạn Năm, tự hào Văn Hiến Chi Bang, Ngàn Năm Văn Vật  và Văn Minh Trống Đồng, mỗi người cần làm gì cho Đất Nước đang lúc lâm nguy.
Nho đã mất tinh thần, Nho đã hủ lậu càng thêm hủ lậu, Dân Việt Nam đã ngủ say lại càng ngủ mê hơn!   Triết gia Kim Định đã ví von : "Hồn mất trước, Nước mất sau". Hồn đây là Hồn Nhân Nghĩa của Dân Tộc cũng là Tình Nghĩa Đồng Bào. Nước đây là quyền làm Chủ của Giang Sơn Gấm Vóc, được xây dựng từ thuở Vua Hùng.  Nói tóm lại sự sa đọa về Văn Hóa làm cho con Người mất hết Tư cách và Khả năng, không thể hành xử Hòa với nhau, mà phá tan mọi sự!
     Ngày nay, muốn thể hiện Nhân quyền thì mỗi người phải có Tự do căn bản, biết nhận những dị biệt của nhau mà cùng nhau chung Lòng, chung Trí và Góp sức Cứu Dân và Dựng Nước theo Tinh Thần của Hiến Pháp.
     Việc nâng cao Dân Trí, chấn hưng Dân Khí là trọng trách của các vị Lãnh đạo Tinh thần, các vị Trí thức, các nhà làm Văn Hóa Giáo Dục cũng như các vị làm Truyền Thông, đây là thành phần đầu tàu của dân tộc. Ngày nay các trang mạng, các bloggers đóng một vai trò quan trọng, nhưng các bloggers phải đồng thuận vào một Hướng chung của Dân Tộc mới có tác dụng tích cực.
     Cỗ máy đầu tàu Dân Tộc này không chuyển động, thì các toa tàu cứ nằm ụ với nhau. Các nhà Truyền Thông, các trang mạng không những truyền tải thông tin (Information) để mở rộng Kiến thức quần chúng (Khả năng), mà còn giúp phổ biến Tinh Thần của Tôn giáo và nhất là Văn Hóa chung của Dân Tộc (Formation) để un đúc Lòng Nhân (Tư cách) cho mọi người dân.
     Loan truyền Tin tức về Tình yêu thương và Lý công chính là sứ mạng cao cả, giá trị này chung cho cả Dân Tộc, nên Vô tư không thiên vị.
     Một Dân tộc có con Dân Tâm rộng, Trí sâu thì mới Kết Đoàn được, Kết Đoàn trong cách biết chấp nhận những Dị biệt của nhau hợp với tinh thần Nhân Ái và Lý Công Chính để cùng nhau Cứu Dân và Dựng Nước.!


Lê An Vi (tổng hợp từ Việt Nho và Triết lý An Vi)

Thứ Sáu, 8 tháng 7, 2016

GIỚI THIỆU VĂN MINH LẠC HỒNG

THƯ VIỆN CỘI NGUỒN TRÂN TRỌNG GIỚI THIỆU TRANG vanminhlachong.blogspot.com

                                        LỜI NÓI ĐẦU


       Người Việt Nam ngày nay là con Lạc, cháu Hồng, là hậu duệ ở ngay trên Đất Tổ và ở nhiều nơi trên thế giới, mang dòng máu Việt Thường (Việt Thừng) cổ xưa không bị hoàn toàn đồng hóa bởi kẻ ngoại bang. Tổ Tiên ta đã sáng tạo, gây dựng nên một nền văn minh kỳ diệu, là chủ nhân khởi đầu làm nền tảng phát triển “Văn Minh Phương Đông” trở thành kỳ vĩ. Nền văn minh rực rỡ đó từng bị ăn cướp, đánh tráo, xuyên tạc, bị ngược đãi và lãng quên khiến nhiều người hiểu về Lịch sử - Văn Hóa dân tộc Việt quá đơn giản, thậm chí sai lệch, ngô nghê, nguy hại...
       Mặc dù vậy, dòng máu Việt Tộc vẫn không ngừng tuôn chảy, thôi thúc biết bao thế hệ con Lạc, cháu Hồng hiến Tâm, hiến Tài, hiến Sức cho việc tìm ra sự thật để giữ gìn và phát huy Tinh Hoa của nền văn hiến Đại Tộc Việtđồng thời ngày càng làm sáng tỏ nền văn minh Việt cổ thật sự hoành tráng rực rỡ.
       Nhóm sưu tầm, khảo cứu Nguồn gốc dân tộc Việt và nền văn minh Việt cổ mong muốn từng bước công bố những kết quả nghiên cứu của mình, đồng thời chuyển tải những nghiên cứu nhiều mặt của các nhà nghiên cứu trong, ngoài nước về dân tộc Việt với tinh thần khoa học, nhân văn nhằm làm sáng tỏ thêm nguồn gốc và nền Văn minh Việt tộc, góp phần xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giầu mạnh.
        Trang “Việt Tộc tinh hoa” của Nhóm sưu tầm, khảo cứu Nguồn gốc dân tộc Việt và nền văn minh Việt cổ, ra mắt cộng đồng với kỳ vọng thực hiện mục đích nêu trên. Chúng tôi rất mong nhận được sự quan tâm, xây dựng của đông đảo bạn đọc trong và ngoài nướcđặng góp phần nhỏ bé nhưng hữu ích vào sự nghiệp hòa hợp, đoàn kết, giúp người Việt Nam ở mọi phương trời, cùng nhau đoàn kết, xây dựng, bảo vệ Tổ quốc, làm rạng danh Đại tộc Việt, góp phần xứng đáng vào sự tiến hóa của Nhân loại ngày nay.
        Xin trân trọng cảm ơn.





Mọi liên hệ xin gửi về  Email: vanminhlachong@gmail.com

Thứ Năm, 7 tháng 7, 2016

TÂM LINH

015007 TÂM LINH



TÂM LINH


1.     Giải nghĩa
Nghĩa từ nguyên.
Tâm
     (1) Tâm là trái tim, mặt khác, người xưa cho tâm là vật để nghĩ ngợi, suy tư, những gì thuộc về tư tưởng đều gọi là tâm. Bình dân hiểu là tấm lòng.
Thí dụ: tâm cảnh, tâm địa, tâm lý. (Từ điển Hán-Việt, Thiều Chửu).
     (2) Tâm là Ánh Linh Quang từ Đấng Tạo Hóa hay nguồn Sống và nguồn Sáng. Đi vào Tâm, tức là Quy tư về nguồn Vô, tức là nguồn Linh Quang: Nguồn Sống  là Lòng Nhân Ái, Bác Ái hay Từ Bi, Nguồn Sáng là Quang Minh, Công lý hay Lẽ công bằng hay Trí Huệ. Nói theo bình dân là Nguồn Tình và Lý.
     Linh
(1)   Linh: là năng lượng khởi phát từ tâm/quang tâm/minh tâm trường tồn,
hiển hiện với thời gian, không gian, nhân tình thế thái.
(2)    Linh: thần linh, khí tinh anh của dương gọi là thần, khí tính anh của
âm là linh. Ý nói vật gì được khí tinh anh đúc lại hơn hẳn các vật khác.
Thí dụ: Con người cao quý gọi là Nhân Linh/Hiền Tài/Hiền Nhân; giống vật quý có Tứ Linh (Long, Ly, Quy, Phượng); đồ vật quý (bảo vật), có Tứ Linh Đại Khí (Tượng Phật chùa Quỳnh Lâm, Quảng Ninh; Tháp báo Thiên, Thăng Long; Chuông Quy Điền chùa Diên Hựu (Chùa Một Cột), Thăng Long; Vạc Phổ Minh, chùa Phổ Minh, Thiên Trường, Nam Định.
     (3) Thần như Bách Thần gọi là Bách Linh. TD: Sơn Linh, Thủy Linh…
     (4) Người chết gọi là linh/linh hồn, tức thân xác mất đi, hồn ở lại. Đặt bài vị thờ kẻ chết gọi là Thiết Linh.
     (5) Uy phúc không hiện rõ gọi là Linh, như Thanh Linh, cảm là thấy, hình như có cái gì soi xét, bênh vực cho.
     (6) Ứng nghiệm/linh ứng như tiên tri, bói toán, làm thuốc mà thấy hiệu nghiệm đều gọi là Linh.
     (7) Linh hoạt, nhanh nhẹn, không ngu ngốc xuẩn trệ.

     Nghĩa rộng
     Lòng, tấm lòng, lòng dạ, tâm can;
     Kết hợp: tâm hồn, tâm tình, tâm thức, tâm trí, tâm khảm, tâm đạo, tâm vũ trụ, tâm linh…
     Khái niệm tâm linh bắt đầu từ khi những giá trị tinh thần khởi từ tâm qua vô vàn trải nghiệm nghiệt ngã của không thời gian, rồi được mài dũa, chắt lọc, nâng niu và trở thành linh thiêng. Từ đó, được tôn kính dâng lên Ban thờ tối cao của mỗi gia đình và cả cộng đồng.
2.  Tâm Linh là Sinh lực và Linh lực, cũng là Nguồn Sống và Nguồn Sáng
     Tâm Linh không duy về Tâm để thành hiện tượng Duy Tâm, cũng không duy về Vật để trở thành Duy Vật. Tâm Linh vượt lên, bao trùm cả hai cái đó và hòa cùng với chúng, tạo thành một chỉnh thể trọn vẹn để phát triển trong thế Quân Bình Động.
     Nói theo Triết Đông, Tâm Linh là trạng thái đắc Đạo/ Huyền đồng hay đạt Minh Triết. Bởi Triết là Triết triệt dã, tức triệt thượng và triệt hạ, mọi sự phải tác hành triệt để và tới tận cùng để hoàn thiện, để vuông tròn.
     Ta có thể giải thích nguồn Sống và nguồn Sáng theo Ngũ hành:

Hỏa
MộcThổKim
Thủy

     Trục Tung là trục Tâm linh (Thế giới Vô/Vô cùng): Thuỷ Hỏa là cặp Đối cực qua sự dung hóa của hành Thổ, còn trục Hoành là trục Thế sự (hay Thế giới Hiện tượng): Mộc (sinh vật) Kim (Khoáng chất) là cặp đối cực được giao thoa  nhờ hành Thổ.  Ngũ hành gồm Vật chất năng lượng, sinh vật và khoáng chất được Thổ dung hóa, trở nên  nguồn Sinh Sinh Hóa Hóa của Vũ trụ.  Con Người ở vị trí hành Thổ, nên con người cũng được ví là Vũ trụ chi Tâm: Cái Tâm của Vũ trụ. (Hành Thổ cũng giống như Black Hole: Xem SPACE.com/ Warping Time and Space).
     Ngũ hành cũng tương tự như Time – Space – Continuum của Einstein, cũng như  Lạc Thư (Minh Triết) của Lạc Việt.
Theo thuyết Tam Tài “Nhân giả kỳ Thiên Địa chi Đức“: Người là nơi quy tụ đức của Trời Đất hay Thổ là Kết Tinh của Thủy và Hỏa. Thủy là khí/năng lượng âm, Hỏa là khí/năng lượng dương, âm dương tương thôi sinh vạn vật.
    “Thủy Hỏa Vạn vật chi nguyên”: Nước là Nguồn Sống của Vạn vật, Hỏa là Lửa, là Nguồn Sáng. Hỏa tượng trưng cho Thiên, Thủy tượng trưng cho Địa, Nhân là kết tinh của Thiên Địa, nên cũng là kết tinh của Thủy Hoả.
     Ngày nay người ta đã tìm ra Tình Yêu ở trong Não. Theo Louis De Broglie thì ánh sáng được truyền vừa theo Làn Sóng hình Sin vừa theo đường thẳng của dòng Hạt Photon (Quang tử). Làn Sóng có tính chất bao che ôm ấp Dòng Hạt Photon như Tình yêu, Lòng Nhân ái, Bác ái hay Từ bi. Còn Dòng Photon thì truyền thẳng tắp như Công lý hay Lẽ Công bằng.  Sóng và Hạt không thể tách rời, Tình và Lý cũng vậy.
     Trong Thánh Kinh cũng nói Chúa Jesu là Nguồn Sống và nguồn Sáng, Ngài tạo ra Vũ trụ, tức là nguồn  Sinh Sinh Hóa Hóa của Vũ Trụ. 
     Muốn trau dồi nguồn Sống và nguồn Sáng thì phải Quy tư về nguồn Vô, cũng  là nguồn Tâm Linh, phải dẹp hết những Suy tư theo Lý trí để vén màn Vô minh hầu  tiếp cận với nguồn Sống và nguồn Sáng. Khi sống ngoài đời tức là thế giới Hiện tượng thì phải dùng Lý Trí để sống sao cho: Tuy Ngoài (Gia đình và Xã hội) là Lý, nhưng Trong (Tâm tư) mỗi Cá nhân là Tình (Nguyễn Du). Đó là cách sống “Hợp Nội (Tình) Ngoại (Lý) chi Đạo: Con đường Sống Tình Lý vẹn toàn“.  (Việt Nhân)

3.  Những giá trị Tâm Linh siêu việt của Văn Hóa Việt Nam
     Tâm Linh là trạng thái Vô/Không trong các phép tu luyện sức khỏe, trí huệ như Thiền, Khí công Phật gia, Suối nguồn tươi trẻ, Khí công trường sinh, Hư linh công, Pháp luân công, Thái cực quyền, Mai hoa quyền, Năng lượng Tình thương và hàng trăm môn phái khác. Tựu chung, các phép tu luyện đều lấy Chính Niệm/Ý Niệm/Tập trung tư tưởng làm chủ đạo; Hô hấp/Hít vào-Thở ra làm động lực; Điều hòa Thân-Tâm hợp nhất để tiến tới Không, tới Vô Thức là mục đích.
Kết quả của tu luyện là Tâm và Thân hợp nhất cũng là trạng thái đạt Đạo, đạt Huyền Đồng, đạt Tâm Linh.

     Tâm Linh trong Vũ Trụ Quan của người Việt, một Triết Lý Nhân Sinh từ ngàn xưa, khi người Việt “Trông trời mà minh thời” – đó là Chín cái Trông trong nông nghiệp trồng lúa Mễ: “Trông trời trông đất trông mây/ Trông mưa trông nắng trông ngày trông đêm/ Trông cho chân cứng đá mềm/ Trời yên biển lặng mới yên tấm lòng”.

     Tất cả những phong tục, tập quán, lễ, hội, diễn xướng dân gian truyền thống trong sinh hoạt từ thời thái cổ của người Việt từ 10.000 đến 15.000 năm cách nay mà đỉnh cao là thời kỳ Hoàng Kim Văn Minh Trống Đồng với Nhà Nước Xích Quỷ-Văn Lang của các vua Hùng đã trở thành những giá trị tâm linh vĩnh cửu mà ngày nay chúng ta kế thừa, gọi là Văn Hóa Tâm Linh.
Tâm Linh còn thể hiện trong tín ngưỡng và văn hóa ứng xử giữa Thiên, Địa, Nhân của người Việt. Mỗi một phong tục hay tập quán đều mang tính tâm linh sâu nặng.
     Một điều mà không mấy ai nhận ra trong tục thờ cúng Tổ Tiên còn gọi là Lễ Gia Tiên và Thần Linh của Việt Nam đã trở thành độc nhất vô nhị trên thế giới.
     Đây là nhận xét xác đáng của các học giả Phương Tây khi nghiên cứu chủ đề Văn Hóa & Văn Minh Việt Nam. Trong cuốn Cơ cấu Việt Nho (1973), của Triết gia Kim Định (1914 - 1997), Chương XII. Điển chương Triết Việt, đã phát hiện những nhận xét xác đáng trên.
     Các nhà nghiên cứu đặt ra hai vấn đề: một “Người Việt Nam vô tôn giáo nhất” “Người Việt Nam là giống người tôn giáo nhất”. Đó là hai nhận xét trái ngược, nhưng Triết gia Kim Định cho rằng cả hai đều đúng. Bởi, chữ tôn giáo đã hiểu theo hai nghĩa khác nhau.
-          Nghĩa thứ nhất hiểu là tôn giáo mặc khải, tức có Thánh Kinh, nghi lễ, tư tế, giáo hội. Rất tiếc, điều đó dân Việt tuyệt nhiên không có.
-          Nghĩa thứ hai là của ông Linh mục người Pháp là Léopold Michel Cadière, nói rằng người Việt có tinh thần tôn giáo cao độ. Điều này đúng một trăm phần trăm, nhưng nên hiểu là tín ngưỡng. Bởi không đâu trên thế giới có nhiều nhà thờ bằng Việt Nam, đến nỗi có bao nhiêu gia đình là có bấy nhiêu nhà thờ, không kể mỗi làng xã lại có các nhà thờ chung như đình, chùa, miếu, mộ, lăng… của cả cộng đồng.
Khác với bên Tây Âu, phải có linh mục tư tế và linh mục dự tế, ở Việt Nam thì tất cả đều là tư tế.  Ông Paul Mus, một học giả nghiên cứu Việt Nam và Đông Nam Á trong một câu rất sâu sắc như sau:
     ”Il n’agit pas, il officie”- Người Việt không làm việc, họ tế tự.
     Tế tự ở Việt Nam là tri ân và hiếu đễ với Tổ Tiên, Thần Linh, Đất Trời đã trở thành một tập quán truyền thống cao cả và linh thiêng.

     Tâm Linh đã đạt đỉnh trong xã hội Việt Cổ với Nhà Nước Xích Quỷ-Văn Lang của các vua Hùng. Văn Hóa Tâm Linh của Văn Lang là nền tảng của danh hiệu Văn Hiến Chi Bang của các quốc gia Việt sau đó.
     Nói Tâm Linh đạt đỉnh, bởi quá trình phát triển của tâm thức con người là từ bái vật, ý hệ đến tâm linh. Thời các vua Hùng trong khoa nghiên cứu lịch sử, các học giả, các chuyên gia gọi là Văn Minh Văn Lang. Theo thuyết Việt Nho và triết lý An Vi thì thời đại này đã đạt cái toàn thể, cái môi sinh tinh thần, cái triết lý nhân sinh từ Nhân sinh quan đến Vũ Trụ quan với bốn tiêu chí: Từ, Tượng, Số, Chế.
     Từ là lời nói là văn vẻ, ở đây hiểu là các huyền thoại thời sơ nguyên, trong đó có cả Sáng Thế Ký (Cosmogony) như truyện Bàn Cổ. Với Lạc Việt thì kho tàng ấy gồm 15 truyện trong Kinh Hùng. Mở đầu không có Thần thoại mà toàn là Nhân thoại, tức là toàn các anh hùng văn hóa có đầy hoạt lực để tranh đấu với Thần thoại, với Bái vật. Điển hình là ba vĩ tích hùng tráng của Lạc Long Quân là tiêu diệt Ngư Tinh, Mộc Tinh và Hồ Tinh, giành lại quyền làm chủ cho con người. Tiết Liệu xếp đặt trời đất, tức Bánh Trời để trên Bánh Đất, liên tưởng đến ông nội Bàn Cổ đã thủy phán Âm Dương tạo ra Trời Đất. Nền Nhân Chủ đến cùng cực thể hiện trong nhân vật Thánh Gióng, cũng có tên là Xung Thiên Thần Vương…
Đó là nội dung của Kinh Hùng – đại diện cho Lời/Từ.
     Tượng là những cặp đôi, uy nghi có, cận nhân tình có như: âm-dương, đực-cái, nước-lửa, núi-sông, Ông Cồ-Bà Cộc, Ông Đùng-Bà Đà… Những cặp đôi đó kết tinh lại trong cặp đôi Tiên-Rồng đầy thi vị, biến hóa mênh mông, thẩm thấu vào các ngõ ngách của đời sống bình dị: từ mỹ thuật đến thể chế, ngôn từ, thói tục…
     Cái tượng này sẽ kép nét lên, sinh ra bánh dày bánh chưng hay tròn vuông tương hội. Đầy đủ nhất là tổng hòa các sinh hoạt của người Việt Cổ trên họa tiết trống đồng. Với cấu trúc mang đặc trưng Lưỡng Nhất tính của văn hóa Việt, mặt trống là Mẹ Tiên, tang trống là Cha Rồng, giao hòa và sinh sôi đàn con dân Việt, tạo nên khoảng Trống - Thái Nhất Trống Đồng. Các cặp đôi được xắp đặt theo một trật tự pháp tự nhiên đa phương, đa chiều mở, hài hòa theo tiết nhịp của Vũ Trụ (Cosmic rhythm). Đời sống nông nghiệp lúa Mễ với làm-ăn, ca-múa, lễ-hội… hòa cùng thiên nhiên như chim chóc, thú vật, to nhỏ, ngắn dài trải rộng trên mặt trống. Mặt trống được chia làm hai mảnh, bên lẻ, bên chẵn, 3 đôi chim, 4 đôi chim rồi các đoàn người... Đó là các cặp số 2-3, rồi 3 tròn, 4 vuông, số của bánh trời bánh đất.
Vậy, trống đồng được coi là cái tượng chói chang của Huyền sử nước Việt.
     Số, về số thì phải tìm trong Tượng. Đây là bộ huyền số của Việt Tộc gồm Vài, Ba, Năm (2+3) và Chín (3x3). Bộ huyền số không phải là những con số trong môn Số học.
Vài là Lưỡng Nhất (Dual Unit) – Hai trong Một (đồ hình Âm Dương);
Ba là Tam Tài – Thiên-Địa-Nhân (tài là tác);
Năm/Ngũ là hai cộng ba tức Ngũ Hành. Ngũ Hành là bộ số siêu linh đã bị lãng quên. Số ba trong Tam Tài chỉ con người đầy tác động tính. Số hai chỉ lưỡng thê, tức hai đời sống, một của thế giới hiện tượng, một của thế giới siêu linh mà xưa kia gọi là “hình nhi thượng” tức bên trên hình tượng. Ở đây cần con người phải sang sông để đáo bỉ ngạn, Kinh Dịch kêu là “lội qua sông lớn” (thiệp đại xuyên). Phải hiện thực được bước lội qua sông này mới tới cõi con người Đại Ngã.
Sau ngũ hành là mấy bộ số kép khác như số 9. Đó là do ba bậc của Tam Tài 3 mà ra, rồi số 18 là hai bậc của 9 (trùng cửu): 18 đời Hùng Vương, 18 ngàn năm của Bàn Cổ, 18 thước cao của con ngựa Thánh Dóng, 18 đôi chim ở vòng ngoài cùng của Trống Đồng…
Các số này sau được kết tinh vào Kinh Dịch mà khởi thuỷ là “Kinh vô tự” vì chỉ dùng toàn số 2, 3, 5, 9 (nó chỉ trở nên Kinh hữu tự từ lúc Tàu hóa tức Dịch gọi là của Văn Vương và Khổng Tử). Vậy là ta có thể coi Kinh Dịch như nơi kết tinh của số.
     Chế là các thể chế, tục lệ mà nơi tập trung sống động là cái làng Việt. Làng là một nấc thang đi lên Nước, nên tiền nhân nối liền Làng vào Nước gọi là Làng - Nước, cũng như đã nối liền Nhà với Nước gọi là Nhà Nước. Nối liền như thế là không cho phép quan niệm Nước tách biệt khỏi Nhà như trong lối chuyên chế quen lấy thế Nước để bóp nghẹt tỉnh Nhà, trái lại phải quan niệm Nước theo mẫu mực Nhà. Xưa vua quan được gọi là cha mẹ dân (phụ mẫu chi dân) là theo ý đó; cũng như ta thấy lối xưng hô trong gia đình áp dụng cho hết mọi người trong Nước cũng vì ý đó. Dù với người không quen ta cũng xưng là bà, ông, anh, chị, chú, bác mà sâu xa hơn cả là hai chữ đồng bào. Để được gọi mọi người trong Nước là đồng bào thì phải có huyền thoại bọc trứng Âu Cơ để chỉ mọi người cùng chung một mẹ sống trong tình nhà là đùm bọc, san sẻ, yêu thương, bình sản, lấy chữ hòa làm lý tưởng. Người ta cũng có thể gọi mọi người cùng nước là đồng hương nhấn mạnh trên đất nước (quê hương) nhưng tiền nhân ta đã chọn hai chữ đồng bào là nhấn trên mẹ (đất mẹ) để đặt nổi mối tình người, tình nhà, tình nước.
    Từ, Tượng, Số, Chế, tất cả đều có nơi kết tinh đó là:
-          Kinh Hùng cho Từ
-          Trống Đồng cho Tượng
-          Kinh Dịch cho Số
-          Thôn làng cho Chế.

Nói đến Văn Lang là nói đến nước có lễ trị hay nhân trị. Nhưng lễ trị không phải là một quà tặng vô thường cho loài người vì thế hầu hết chỉ có chuyên chế. Vậy lễ trị chính là thành quả của một cuộc tiến hóa năng động thuộc tâm thức con người từ bái vật, ý hệ đến tâm linh. 
     Trong xã hội dân chủ ấy sản sinh một mẫu hình đặc trưng mà các nền văn minh khác trên thế giới chưa đạt được, đó là Tự Do và Bình Sản.
-          Tự Do vì từ cổ xưa, xã hội Việt là một cộng đồng làng xã, như một đại gia đình với cơ cấu Nhà-Nước, Làng-Nước, Đức Vua-Thần Dân. Cộng đồng có tôn ti trật tự theo tuổi tác, trong xỉ, trọng hiền tài, trọng phụ nữ, mọi người đều có cơ hội như nhau. Cứ đến tuổi thì được vào Hội đồng Kỳ mục. Không có quân đội chính quy, khi có giặc ngoại xâm thì cả nước cùng đánh giặc. Xã hội không hề có phân chia giai cấp, không có chế độ nô lệ, cho dù đây đó vẫn tồn tại số ít người đi ở, làm thuê…
-          Bình sản là ai cũng được tham dự tài sản quốc gia theo định chế, định kỳ quân phân tài sản. Ruộng đất là của chung làng xã (công điền, công thổ), không lấy tư sản làm căn bản, không tuyệt đối hóa quyền tư hữu. Vì vậy không có Tư bản với Vô sản. Chế độ bình sản này kéo dài cho mãi tới cuối thế kỷ 19. Hơn thế nữa, không có phong điền kiến quốc kiểu Tàu hay Tây. Ở Việt Nam có được phong cũng ít người và cũng chỉ được hưởng có một đời. Cho nên cũng không có chế độ phong kiến như  đã lạc lối trong nhận thức khoa học chính trị pháp lý về Nhà Nước, dẫn đến thông tin đại chúng sai lệch như hiện tại.
    
     Một xã hội lý tưởng đã từng tồn tại gần năm ngàn năm, với đỉnh cao là Thời Đại Hùng Vương có cội rễ từ hơn một vạn năm, tiếc thay nó đã bị lãng quên với vô số nguyên do khôn biện bạch. Nay nó còn đọng lại như một di sản của triết lý nhân sinh trên nền tảng Nhân Bản Tâm Linh, đó là:
Nhân Chủ, Thái Hòa, Tâm Linh.
·        Nhân Chủ tức, con người là chủ nhân, làm chủ bản thân, làm chủ gia đình và làm chủ xã hội, theo nghĩa hẹp. Rộng ra, theo Dịch Lý, Nhân đứng ở vị trí bình đẳng như một Tài trong Tam Tài – Thiên, Địa, Nhân. Khi Trời làm, Đất làm thì Người cũng làm gọi là “Tham thông”, nghĩa là cùng tham dự, cùng làm. Đó là nghĩa trọn vẹn của Nhân Chủ.
·        Thái Hòa là không gian giao hòa của vạn vật, là sự giao hòa của Vạn Vật, Việt Nho gọi là “Âm Dương tương thôi”, “Đại Đạo Âm Dương Hòa”. Thái Hòa là sự giao hội người với người, người với thiên nhiên, người với vạn vật. Bởi tính Hòa nên con người không dừng lại ở cá nhân mà vươn tới con người Đại Ngã Tâm Linh, nên có khả năng Hòa Trời, Hòa Đất và Hòa Người. Đó là Đạo Thái Hòa.
·        Tâm Linh, ngoài những Hằng Tính vừa nêu trên như: Song Trùng Lưỡng Cực, Nhân Chủ, Thái Hòa, một nét Đặc Trưng khác của Văn Hóa Việt là tính chất Tâm Linh. Tâm Linh là không Duy Vật, không Duy Tâm được biểu hiệu bằng số 5, Hành Thổ, là hành vô hành, hành đạt tới Không để vượt lên, bao trùm và hòa cùng vạn vật. Tâm Linh là Sinh lực và Linh lực, cũng là Nguồn sống và Nguồn sáng.

Tâm Linh là trạng thái siêu việt trong Nghệ Thuật Thư Pháp Việt Nam và Phương Đông.
     Thư pháp hiểu theo nghĩa đơn giản là cách viết chữ đẹp (caligraphy), cho nên, mỗi một người, mỗi trường phái là một lối thể hiện Thư pháp riêng. Trung Quốc là nơi phát triển phổ quát Thư pháp, nhưng đỉnh cao là ở Nhật Bản với nhiều trường phái khác nhau đã tạo nên Thư Đạo, tức là phối kết hợp pháp Thiền vào bút pháp thư. Tựu chung, Thư Đạo hay Thiền Thư là trạng thái Tâm Thân hợp nhất để đạt tới Hư Không, Huyền Đồng hay Tâm Linh. Những tác phẩm Thiền Thư nổi tiếng đã tải được Đạo một cách tế vi và trở nên huyền diệu.

     Tâm Linh cũng là kết quả, thành tựu của Y học cổ truyền và hiện đại Việt Nam và Phương Đông. Những phương thuốc, bài thuốc, vị thuốc, phép chữa trị bệnh của các lương y, thầy thuốc khi đạt kết quả cuối cùng là giải thoát tâm lý, bệnh lý, tật ách, hài hòa âm dương trong con người bệnh, là trạng thái đạt Tâm Linh trong tác hành nghề y.

Suy đến cùng Tâm Linh chính là nền tảng của Văn Hóa Việt Nam từ cội
nguồn. Tâm Linh vừa là nền móng vững bền, vừa là cái cột trụ trời, là cõi siêu linh của Văn Hóa Việt.
     Hội tụ đầy đủ các yếu tố đặc trưng siêu việt về cả Văn lẫn Vật, cả Văn lẫn Hiến, tự hào là:
     Đất Nước Văn Hóa Vạn Năm, Ngàn Năm Văn Vật, Văn Hiến Chi Bang và Văn Minh Trống Đồng!

     Mạo muội vài lời từ một số lĩnh vực điển hình chắt lọc từ tinh hoa văn hóa dân tộc về Tâm Linh, cái nguồn sống và nguồn sáng mà mỗi sinh linh đều bẩm thụ. Cơ hội đối với mỗi người là như nhau, còn thành công hay thành nhân là tùy thuộc bản lĩnh, trí tuệ, tác hành và một chút may mắn.

Cảm hứng cho một Mùa Xuân Hy Vọng, Xuân Ất Mùi 2015
Ngày Bảo Quang Hoàng Đạo 25, tháng Đinh Hợi, Giáp Ngọ 2014  


Lê An Vi,  Tổng hợp từ Việt Nho & Triết Lý An Vi

015004 LĂNG KÍNH LƯỢNG TỬ LUẬN LUẬT QUÂN BÌNH VÀ TRIẾT LÝ ÐẠI HÒA Thái Đông A

013001a NHẬP MÔN

013001a    NGƯỜI VIỆT, TIẾNG VIỆT, ĐẤT NƯỚC VIỆT Một con người chưa hiểu biết về gốc gác của mình chưa thể là con người có văn hóa. Cũng n...