Chủ Nhật, 3 tháng 5, 2020
NHÀ NƯỚC VĂN LANG CỦA VIỆT THƯỜNG THỊ
02002
NHÀ NƯỚC VĂN LANG
CỦA VIỆT THƯỜNG THỊ
Hà Văn Thùy
Trong khi
tìm lại cội nguồn, chúng tôi gặp vấn đề khó khăn nhất, bí ẩn nhất là nhà
nước Văn Lang.
Thư tịch
Trung Hoa, kho tàng vô giá giúp tìm lại quá khứ không ghi chép dù chỉ một lần.
Chúng ta chỉ gặp ở truyền thuyết rồi từ truyền thuyết được ghi thành văn bản muộn
mằn về sau trong các sách đậm màu huyền thoại: Lĩnh Nam chích quái, Việt điện
u linh… Đã có thời theo chủ thuyết duy vật lịch sử, chúng ta không tin vào
truyền thuyết. Nhưng rồi sự thật cho thấy, có những việc của truyền thuyết lại
thật hơn nhiều trang sử. Truyền thuyết nói với ta rằng, “Hùng Vương lên ngôi, đặt
tên nước là Văn Lang…” Ta hiểu đó là nhà nước xuất hiện trước khi dân tộc bước
vào thời có sử, một giai đoạn có ý nghĩa quyết định đối với lịch sử dân tộc. Nếu
không hiểu thấu đáo về thời kỳ này, mọi cuốn sử trở nên thiếu cơ sở. Để chứng
minh Văn Lang có thật, các nhà chép sử Việt Nam hiện đại đã dựa vào sách Đại Việt
sử lược của tác giả khuyết danh, dựng lên nhà nước Văn Lang được thành lập 700
năm TCN tại đồng bằng Bắc Bộ. Một Văn Lang như thế đã vào chính sử, hiện lên
sách giáo khoa và trong tin tưởng của nhiều thế hệ người Việt. Nhưng rồi khi
tình cờ khảo sát địa chất thủy văn đồng bằng sông Hồng, chúng tôi bỗng phát hiện
chuyện động trời: 700 năm TCN, đồng bằng sông Hồng còn chìm trong nước biển
của vịnh Hà Nội. Chỉ tới 300 năm TCN, khi nước biển rút, phần quan trọng nhất
của đồng bằng mới hiện ra để người dân tới khai thác (1). Những địa danh như Văn Lang, Giao Chỉ… mới hình thành từ đầu Công nguyên. Làm sao mà
có một nhà nước ở nơi như vậy? Nhưng truyền thuyết, tâm linh dân tộc luôn hướng
về nhà nước buổi ban đầu…
Chúng tôi
xin đưa ra một giả thuyết về nhà nước Văn Lang.
40.000 năm
trước, đang trong Kỷ Băng Hà, nhưng lúc này khí hậu ấm lên đáng kể, phía Bắc bớt
lạnh. Người từ Việt Nam đi lên Quảng Đông. Tiếp tục săn bắn hái lượm trên băng
giá nhưng người Việt cũng trồng nhiều loại rau, củ, quả theo phương thức bán thuần
hóa. Nhờ đó nguồn thức ăn được cung cấp nhiều thêm, đời sống được cải thiện và
nhân số gia tăng. Người Việt lan tỏa ra khắp Hoa lục. Khoảng 20.000 năm trước,
tại Tiên Nhân Động tỉnh Giang Tây, cách biên giới Việt Nam hôm nay hơn trăm cây
số, người Việt chế ra đồ gốm đầu tiên, bước vào giai đoạn ăn chín uống sôi.
Trong số thực vật hoang dại được dùng làm thức ăn, ngày càng nhiều thêm hạt của
loài lúa hoang Oryza nivara. Cùng với thu hoạch hạt lúa tự nhiên, con người tiến
hành thuần hóa lúa. 12.400 năm trước, cũng tại đây, cây lúa trồng Oryza sativa
ra đời. Có được cây lúa trồng với năng suất cao và chất lượng tốt hơn là bước
tiến quan trọng của canh tác nông nghiệp. Cùng với cây kê và giống gà, giống
chó được thuần hóa từ trước, người Việt đưa nông nghiệp lên lưu vực Dương Tử và
Hoàng Hà. 9000 năm trước văn hóa nông nghiệp Giả Hồ, Hà Nam được xây dựng. Cùng
với dụng cụ đá mài bóng tinh xảo, người Việt chế tác đồ gốm đen trình độ nghệ
thuật cao, mỏng như vỏ trứng. Lượng lúa dư thừa, rượu gạo được nấu, đem ngâm với
táo gai và mật ong thành rượu vang. Nghề nuôi tằm xuất hiện. Khai quật ngôi mộ
8500 năm trước, các nhà khảo cổ tìm được protein tơ tằm cho thấy lụa được dùng
cho may mặc. Phát hiện những chiếc sáo bốn lỗ, sáu lỗ và tám lỗ làm bằng xương
chim hạc, có chiếc đến nay còn thổi được, cho thấy hoạt động âm nhạc của người
xưa. Cũng lần đầu tiên tại đây tìm thấy những chữ tượng hình như chữ Nhật, chữ
Mục, chữ Bát, số 20… khắc trên xương thú hay yếm rùa. Văn hóa Giả Hồ là văn hóa
tiêu biểu sớm nhất của người Việt. 7000 năm trước xuất hiện di chỉ văn hóa nông
nghiệp lớn Hà Mẫu Độ vùng cửa sông Dương Tử. Cũng 7000 năm trước ra đời văn hóa
nông nghiệp trồng kê Ngưỡng Thiều ở miền Trung Hoàng Hà. Đây là di chỉ văn hóa
lớn, đồ đá, đồ gốm tinh xảo. Ở phía Đông Nam trồng lúa, phía Tây Bắc do khí hậu
khô của vùng cận sa mạc nên kê là cây trồng chủ lực với những nhà kho chứa hạt
kê trong những chum vại lớn. Đặc biệt tại di chỉ Bán Pha (Bonfo) tỉnh Sơn Tây,
tìm thấy nghĩa trang với di cốt người Mongoloid phương Nam (South Mongoloid) rất
gần với người Trung Quốc hiện đại. Các nhà khoa học cho rằng đây chính là tổ
tiên của người Hán.
Một câu hỏi:
người ngưỡng Thiều từ đâu ra? Học giả Zhou Jixu, sau khi khảo cứu dân cư gần
gũi quanh vùng, cho rằng đó chỉ có thể là người từ phương Nam lên. (2) Nhưng
trong sách Nhân chủng học Đông Nam Á, nhà nhân học hàng đầu của Việt Nam Nguyễn
Đình Khoa khẳng định: suốt trong thời kỳ đồ đá, Nam Trung Quốc và Đông Nam Á chỉ
duy nhất chủng Australoid mà không có người Mongoloid. (3) Do vậy không thể có
người Mongoloid từ phương Nam lên. Từ khảo cứu của mình, chúng tôi nhận định: người
Mongoloid phương Nam Ngưỡng Thiều chỉ có thể là sản phẩm lai giữa người Việt chủng
Australoid sống ở bờ Nam và người Mông Cổ phương Bắc (North Mongoloid) sống
trên bờ Bắc Hoàng Hà. Do người mẹ Việt sinh ra tại Nam Hoàng Hà, bú sữa
mẹ Việt, nói tiếng Việt và sống trong văn hóa Việt, người Mongoloid phương Nam
là người Việt, sau này được nhân học đặt tên là người Việt hiện đại.
Người Việt trên lưu vực Hoàng Hà nhanh chóng chuyển sang chủng Mongoloid phương
Nam.
Thời kỳ
này người Việt đã trưởng thành về văn hóa: chế tác đồ đá, đồ gốm tinh xảo, nông
nghiệp trình độ cao. Khai quật khu mộ 6500 năm trước tại dốc Tây Thủy trấn Bộc
Dương Hà Nam mà nhiều khả năng là mộ Phục Hy, cho thấy những dấu hiệu
trưởng thành của dịch
lý. Dựa theo truyền thuyết, ta có thể tin, vị tổ đầu tiên của tộc Việt ra đời cùng với tổ mẫu Nữ
Oa.
Trong những
văn hóa khảo cổ trên đất Trung Quốc, văn hóa Lương Chử có ý nghĩa đặc biệt. Đây
là vùng đất thấp cửa sông Dương Tử,
rất thuận lợi cho việc
đánh cá, chăn nuôi gia súc và trồng lúa nên nhiều nhân tài vật lực khắp nơi dồn
về, trở thành trung tâm kinh tế văn hóa phát triển cao nhất của phương Đông thời
cổ.
Khoảng 3300 năm TCN, nơi đây trở thành kinh
đô của nhà nước rộng lớn: phía Bắc giáp sông Dương Tử, phía Đông giáp biển Đông, phía Tây giáp Ba Thục,
phía Nam vươn đến miền Trung Việt Nam. Nhà nước này do Thần Nông, vị vua thần và cũng là tổ của người Việt
xây dựng. Theo truyền thuyết, Đế Minh là cháu của Thần Nông truyền ngôi cho Đế
Nghi. Đế Nghi sinh ra hai con là Đế Lai và Lộc Tục. Đế Nghi cho con cả là Đế
Lai cai quản vùng đất thuộc lưu vực Hoàng Hà, từ Sơn Đông đến Thiểm Tây. Năm
2879 TCN Lộc Tục cai quản giang sơn phía Nam, lấy hiệu là Kinh Dương Vương, đặt
tên nước là Xích Quỷ. Kinh Dương Vương truyền ngôi cho con là Lạc Long Quân. Lạc
Long quân truyền ngôi cho con là Hùng Vương. Hùng Vương lên ngôi, đặt tên nước
là Văn Lang. Thời
gian này lục địa Đông Á có ba trung tâm kinh tế văn hóa là vương quốc của Đế
Lai ở lưu vực Hoàng Hà, nhà nước của Kinh Dương Vương thuộc lưu vực Dương Tử và
nhà nước của Tàm Tùng ở vùng Ba Thục. (4)
Năm 2698
TCN, người Mông Cổ do Hiên Viên dẫn đầu đánh vào Trác Lộc, chiếm miền Trung
Hoàng Hà của người Việt, lập nhà nước Hoàng Đế. Đế Du Võng (con Đế Lai) tử trận, nhà nước của Đế Lai tan rã. Một phần bị Hoàng đế chiếm, phần
còn lại chia thành các tiểu quốc hay bộ tộc tiếp tục kháng chiến lâu dài. Do
chiến tranh, một bộ phận người Việt di cư xuống Nam Dương Tử. Thời gian này, lo
củng cố và mở rộng lãnh thổ chiếm được trên lưu vực Hoàng Hà nên Hoàng
Đế chưa dám ngòm ngó
phương Nam. Nhà nước Xích Quỷ chi viện cho đồng bào phía Bắc kháng chiến.
Khảo cổ học
phát hiện, năm 2300
TCN do nước biển dâng, kinh đô Lương Chử và phần đất phía biển bị nhấn chìm.
Các nhà khảo cổ cho rằng nhà nước Lương Chử tan rã. Nhưng đó là nhận định không
thực tế. Bởi lẽ, một nhà nước có trình độ phát triển cao, với diện tích rộng,
dân đông, giầu có không lẽ gì chỉ vì mất kinh đô mà sụp đổ? Trong thực tế lịch
sử, việc dời đô là điều bình thường của các quốc gia. Sự việc có thể xảy ra như
sau. Nước biển dâng lên từ từ, có thể trải nhiều năm trời. Vì vậy vương triều
cùng người dân tất bàn chuyện dời đô. Khảo cổ chỉ phát hiện vật quý trong các mộ
táng chứng tỏ đã có một cuộc di tản thành công. Trong vương quốc Xích Quỷ cố
nhiên không chỉ có duy nhất đô thị Lương Chử mà phải có nhiều thành phố khác.
Hùng Vương (Không ai biết là thứ bao nhiêu) và triều đình phải chọn một địa điểm
thích hợp nhất.
Lúc này nhà nước Hoàng Đế ở phía Bắc chuyển
sang thời Đào Đường dưới sự cai trị của Đế Nghiêu. Qua năm đời vua từ Hoàng Đế, Chuyên Húc, Thiếu Hạo, Đế Khốc đến
Đế Nghiêu,
phía Bắc theo phong tục Mông Cổ đã khác phía Nam. Người phía Bắc xem dân phía
Nam là ngoại nhân, ngoại tộc, là Nam Man với ý coi thường. Thấy dân phía Nam mặc
váy nên gọi là người Việt Thường (越裳)hay
Việt Thường thị. Văn Lang cử sứ giả tới thăm Đào Đường và biếu rùa thần. Việc
này được ghi trong sử nhưng do quen với danh xưng Việt Thường nên sách ghi Việt
Thường thị mà không ghi quốc danh Văn Lang. Sách Thông chí của Trịnh Tiều thời
Tống (1127-1279) viết: “Đời Đào Đường, phương Nam có Việt Thường thị qua hai lần
sứ dịch sang chầu, dâng con rùa thần; có lẽ nó được đến nghìn năm, mình nó hơn
ba thước, trên lưng có văn Khoa đẩu ghi việc từ khi trời đất mới mở mang trở về
sau. Vua Nghiêu sai chép lấy, gọi là quy lịch.” Cuốn Thượng Thư đại truyện được
viết đầu thời Hán chép: “Năm Tân Mão đời Chu Thành Vương (1063 – 1026 TCN) có
Việt Thường thị phía nam Giao Chỉ đến kinh đô nhà Chu giao hảo, tặng chim bạch
Trĩ.”
Đó là hai
đoạn văn hiếm hoi xác nhận là có họ (hay nước) Việt Thường xuất hiện từ thời
vua Nghiêu (2300 năm TCN) tới thời Chu (1063 năm TCN). Hậu Hán thư cho biết:
“Sau khi triều Chu suy yếu, nước Việt Thường đã dần dần đoạn tuyệt việc qua lại,”
ta hiểu vì sao Việt Thường không còn được ghi trong sách sử. Công việc bây giờ
là phải giải mã những thông tin này.
Để hiểu được
Việt Thường thị thì trước hết phải xác định được vị trí của nhà nước này. Dựa
theo sách Thượng thư đại truyện: “Ở phía Nam Giao có nước Việt Thường,” sách Cựu Ðường thư thời Hậu Tấn
(thế kỷ thứ X) cho rằng Việt Thường là ở miền quận Cửu Ðức, tức là từ Hà Tĩnh,
Quảng Bình trở vào. Sách Văn hiến thông khảo thời Nguyên (thế kỷ thứ XIV) lại
chú rõ thêm rằng nước Việt Thường xưa, tức là nước Lâm Ấp, sau là Chiêm Thành.
Chính những sách này dẫn hậu thế lạc đường.
Thừa nhận
việc Việt Thường thị cống rùa và chim trĩ cho triều đình Trung Quốc là có thể
tin được nhưng chúng tôi cho rằng, Việt Thường thị không thể ở miền Trung Việt
Nam vì những lẽ sau:
Các tài liệu
nói tới địa danh Giao Chỉ thời Đào Đường (2300 năm TCN) rồi thời Chu (1063 năm
TCN) cho thấy, địa danh Giao Chỉ lúc đó đã có rồi. Trong khi địa danh Giao Chỉ ở Việt Nam chỉ xuất hiện, vào
đời Hán Vũ Đế, năm 111 TCN, sau hơn 2000 năm. Điều này cho thấy: Giao
Chỉ thời Đào Đường và thời Chu hoàn toàn không phải là Giao Chỉ ở Việt Nam!
Vì không có Giao Chỉ trên đất Việt thời Nghiêu, thời Chu nên cũng không thể có Việt
Thường thị phía nam Giao Chỉ.
“Giao Chỉ
nguyên nghĩa là một khái niệm nói về vùng đất phía nam vương quốc của Đường
Nghiêu – Ngu Thuấn. Giao Chỉ đầu thời Chu chính là đất Sở (Hồ Bắc, Trung Quốc).
Giao Chỉ cũng còn gọi là Cơ Chỉ hoặc Cơ Sở, nó hàm nghĩa luôn tên nước Sở thời
Xuân Thu và Chiến Quốc. Giao Chỉ nửa cuối thời Chiến Quốc ở phía nam nước Sở.
Giao Chỉ thời Tần là Tượng Quận, thời Tây Hán là Bắc Bộ Việt Nam. Chỉ đến thời
Đông Hán, Giao Chỉ mới biến thành địa danh cố định và xác thực trên địa đồ,
đóng khung bởi kiến thức thiên văn Tần – Hán.” (5)
Vậy là,
ban đầu, Nam Giao chẳng phải địa danh cụ thể mà chỉ là “cái cột mốc di dộng”
đánh dấu biên địa phương Nam của nhà nước Hoàng Đế, được chuyển dịch ngày càng
xa theo đà bành trướng. Chỉ tới thời Đông Hán, khi không còn khả năng bành trướng
nữa, “cột mốc”mới được đóng xuống Bắc Bộ Việt Nam thành địa danh cố định Giao
Chỉ. Học giả thời Tấn, thời Nguyên
sinh sau đẻ muộn, không thể tìm được Việt Thường, Giao Chỉ trên đất Tàu, mà
cũng chẳng biết lai lịch cái tên Giao Chỉ, bèn đoán mò, viết đại rằng “Việt Thường
là Lâm Ấp”! Phân tích
trên xác nhận Việt Thường
thị chỉ có ở Nam Dương Tử. Câu hỏi tại sao miền Trung Việt Nam vào thời Hán lại
có huyện Việt Thường, có thể giải thích như sau. Sau khi Văn Lang bị diệt, dân
cư văn Lang cũ di cư về Việt Nam, có những nhóm người đến miền Trung. Những người
này lấy tên Việt Thường đặt cho nơi cư trú mới. Sau đó dân cư đông lên thành xã
rồi thành huyện. Nhà Hán lấy tên đất Việt Thường làm tên huyện. Cũng do có huyện
Việt Thường ở miền Trung mà nhiều người, trong đó có các học giả Trung Quốc cho
rằng có Việt Thường thị ở miền Trung Việt Nam. Họ càng tin hơn vì có địa danh
Giao Chỉ ở đồng bằng Bắc Bộ.
Từ đó ta có thể suy đoán (vâng, suy đoán) rằng, kế tục Xích Quỷ,
nhà nước Văn Lang vẫn hiện diện ở phía Nam Dương Tử. Từ năm 2300 TCN,
kinh Đô Lương Chử bị
chìm, Vua Hùng dời đô tới nơi nào đó trong nước. Chúng tôi đoán nhiều khả năng
về vùng Hồ Động Đình. Sở dĩ chúng tôi có ý tưởng này vì trong truyền thuyết Lạc
Long Quân-Âu Cơ có nhắc tới Cánh Đồng Tương, sông Tiền Đường, hồ Động Đình (Lạc
Long Quân gặp tiên ở Hồ Động Đình và câu hát ru: Gió Động Đình mẹ ru con ngủ/
Trăng Tiền Đường thức đủ năm canh/ Bổng bồng bông, bổng bồng bông/ Võng điều mẹ
ẵm con rồng cháu tiên.) Nhưng xác định cụ thể nơi nào là điều không đơn giản.
Tìm trên “Bản đồ di chỉ đá mới ở Nam Trung Quốc,” chúng tôi thấy có tới 48 vị
trí được ghi số từ 1 tới 48. Chúng tôi chú ý tới năm vị trí, từ 16 tới 20, ở
phía Tây và Nam Hồ. Nhưng cụ thể là đâu? Do tìm lại kinh đô cũ của Tổ tiên là
việc thuộc về tâm linh, chúng tôi bèn hỏi con lắc cảm cảm xạ. Con lắc chỉ vị
trí số 19 là di chỉ Thành Đầu Sơn (6). Đó là di chỉ khảo cổ thuộc huyện Lý tỉnh
Hồ Nam, vùng đất cao bên sông Dương Tử. Một thành phố lớn, có người ở từ 6500 năm
trước và phát triển rực rỡ nhất khoảng 4300 năm cách nay, dân cư khoảng từ 30 đến
50.000 người, được học giả Trung Quốc nhận định là kinh đô của quốc gia. Kiểm
tra tất cả địa điểm còn lại, con lắc không cho thấy vị trí nào khác, chúng tôi
cho rằng, nhiều khả năng các Vua Hùng đóng đô ở đây khoảng 1500 năm từ thời vua
Nghiêu (2300 TCN) qua thời Thành Vương nhà Chu (1063 TCN) tới lúc thành phố bị
bỏ hoang vào khoảng 800 năm TCN. Để chắc chắn hơn, chúng tôi in một bản đồ, gửi đến nhà ngoại cảm
bậc thầy. Ông dùng máy đo năng lượng cảm xạ dò tìm rồi trả lời: “Số 19 anh ạ!”
Một điều kỳ diệu nữa là khi tôi dò tìm kinh đô cũ của nhà nước Xích Quỷ quanh
vùng Thái Hồ thì tới vị trí số 10, con lắc quay thuận. Đối chiếu vào danh sách
thì đó chính là Lương Chử! Phải chăng chính Tổ tiên linh thiêng đưa đường dẫn lối
cho tôi?
Thành Đầu Sơn kinh đô Văn Lang cổ
Kinh đô Thành Đầu Sơn suy tàn vào khoảng 800
năm TCN, nguyên nhân có thể do biến động từ phía Bắc, Vua Hùng dời kinh đô về
Việt Nam?
Khảo cổ học
cho thấy, khoảng năm 2100 TCN, nước biển rút, vùng Lương Chử khô ráo trở lại,
dân các nơi kéo về sinh cơ lập nghiệp, làm nên văn hóa Mã Kiều. Theo sử thì vào
thời gian này, ông Thiếu Khang hậu duệ của vua Vũ tới đây, cắt tóc vẽ mình theo
tục người Việt, sống chan hòa với dân Việt, được tôn làm thủ lĩnh, lập ra tiểu
quốc Việt. Vì ở xa Trung Nguyên, lại nhỏ bé nên không có tiếng tăm gì. Vào thời
vua Câu Tiễn, đánh thắng nước Ngô, làm bá chủ Trung Nguyên, nước Việt tranh chấp
ngày càng tăng với Văn Lang của Vua Hùng. Tiếp đó, nước Sở mạnh lên, uy hiếp
không chỉ nước Việt mà cả Văn Lang. Trước tình thế nguy cấp, vua Hùng buộc phải
di tản. Nhưng ngài đi về đâu? Khảo khắp các di chỉ đá mới ở Nam Trung Hoa,
không thấy nơi nào, chúng tôi dựa theo Ngọc phả Hùng Vương viết “Đoàn người từ
biển đổ bộ vào Rào Rum-Ngàn Hống (Sông Lam – Núi Hồng) lập kinh đô…” hỏi con lắc
“Có đúng vậy không?” Con lắc quay thuận. Như vậy, khoảng 800 năm TCN, đoàn thuyền
của Vua Hùng tới đóng đô ở vùng Núi Hồng Sông Lam. Từ đây, vua Hùng tiếp tục
lãnh đạo nước Văn Lang gồm Việt Nam và Quảng Đông, Quảng Tây ngày nay. Rồi nước
Sở diệt nước Việt, thôn tính cả đất của Văn Lang vùng Lĩnh Nam. Tiếp đó là cuộc
xâm lăng của Tần Thủy Hoàng. Vua Hùng Duệ vương lãnh đạo dân Lạc Việt liên kết
với Thục Phán đánh quân Tần. Sau chiến thắng, Thục Phán chiếm ngôi của vua Hùng,
lập nước Âu Lạc rồi dời đô về Cổ Loa. Là người gốc Việt thuộc bộ tộc Tần, tổ
tiên di cư lên Trung Nguyên lập nước Triệu. Khi Triệu bị diệt, ở tuổi 20, Triệu
Đà bị xung lính xuống đánh Lĩnh Nam, làm huyện lệnh Long Xuyên. Trên đất Văn
Lang cũ ở Lĩnh Nam, Triệu Đà nhân nhà Tần sụp đổ, lập nước Nam Việt rồi sáp nhập
Âu Lạc vào Nam Việt. Cai trị Nam Việt, Triệu Đà vẫn theo tục cũ của người Việt
nên được dân ủng hộ. Gần trăm năm Nam Việt, nhà Triệu đã củng cố quan hệ quốc
gia vốn có từ lâu của dân cư Văn Lang dưới thời các vua Hùng. Khi bị người Hán
xâm lăng, dân Văn Lang vẫn hướng về nước cũ.
Năm 39,
Hai Bà Trưng là hậu duệ của vua Hùng, có uy tín với dân Văn Lang cũ, đã liên lạc
với những lạc hầu lạc tướng vùng Lĩnh Nam, phất cờ khởi nghĩa và được hưởng ứng
tích cực. Trong 65 thành trì đi theo nghĩa quân thì phần nhiều trên đất Lĩnh Nam.
Xin dẫn một tài liệu quý của Giáo sư Trần Đại Sỹ, “Về Thiên Đài nơi tế cáo của
Đế Minh”(7):
“Tại thư
viện Hồ-nam tôi tìm được một tài liệu rất cũ, giấy hoen ố, nhưng chữ viết như
phượng múa rồng bay, gồm 60 trang. Đầu đề ghi : Thiên-đài
di sự lục.Trinh-quán tiến sĩ Chu Minh-Văn soạn. Trinh-quán là niên hiệu của vua
Đường Thái-Tông, từ năm Đinh-Hợi (627) đến Đinh-Mùi (647) nhưng không biết
Chu đỗ tiến-sĩ năm nào ? Tuy sách do Chu Minh-Văn soạn, nhưng dường như bản
nguyên thủy không còn. Bản này do người sau sao chép lại vào đời Thanh
Khang-Hy. Nội dung sách có ba phần. Phần của Chu Minh-Văn soạn, phần chép tiếp
theo Chu Minh-Văn, của một sư ni tên Đàm-Chi, không rõ chép vào bao giờ. Phần
thứ ba chép pháp danh các vị trụ trì từ khi lập chùa tới thời Khang-Hy
(1662-1772). Chu Minh-Văn là tiến sĩ đời Đường, nên văn của ông thuộc loại văn
cổ rất súc tích, đầy những điển cố cùng thành ngữ lấy trong Tứ-thư, Ngũ-kinh
cùng kinh Phật. Nhân viên quản thủ thư viện thấy tôi đọc dễ dàng, chỉ lướt qua
là hiểu ngay, ông ta ngạc nhiên khâm phục vô cùng. Nhưng nếu ông ấy biết rằng,
tôi chỉ được học loại văn đó vào hồi sáu, bảy tuổi thì ông sẽ hết phục. Tài liệu
Chu Minh-Văn cũng nhắc lại việc Đế Minh đi tuần thú phương Nam, kết hôn với
nàng tiên sinh ra Lộc-Tục. Vua lập đàn tại núi này để tế cáo trời đất, vì vậy
đài cũng mang tên Thiên-đài, núi cũng mang tên Thiên-đài sơn, Minh-Văn còn kể
thêm: « Cổ thời trên đỉnh núi chỉ có
Thiên-đài thờ vua Đế Minh, vua Kinh-Đương. Đến thời Đông-Hán, một tướng của vua
Bà tên Đào Hiển-Hiệu được lệnh rút khỏi Trường-sa. Khi rút tới Quế-dương ông
cùng nghìn quân lên Thiên-đài lễ, nghe người giữ đền kể sự tích xưa. Ông cùng
quân sĩ nhất định tử chiến, khiến Lưu Long thiệt mấy vạn người mới chiếm được
núi. Về đời Đường để xóa vết tích Việt-Hoa cùng Nam Bắc, các quan được sai sang
đô hộ Lĩnh-Nam mới cho xây chùa tại đây ».
Tôi biết
vua Bà là vua Trưng, còn tướng Đào Hiển-Hiệu là em con chú của Bắc-bình vương
Đào Kỳ. Ngài Đào Kỳ lĩnh chức Đại Tư-mã thời vua Trưng. Tướng Đào Hiển-Hiệu tước
phong quốc công, giữ chức Hổ-nha đại tướng quân. Nữ tướng Hoàng Thiều-Hoa chỉ
huy trận rút lui khỏi Trường-sa, hồ Động-Đình, đã sai Hiển-Hiệu đi cản hậu,
đóng nút chặn ở Thiên-đài, đợi quân Lĩnh-Nam rút hết, sẽ rút sau. Nhưng Hiển-Hiệu
cùng chư quân lên núi thấy di tích thời Quốc-tổ, Quốc-mẫu, đã không chịu lui
quân, tử chiến, khiến quân Hán chết không biết bao nhiêu mà kể tại đây. Ngoài cổng
chùa có hai đôi câu đối :
Thoát thân
Nam thành xưng sư tổ,
Thọ pháp
Tây-thiên diễn Phật- kinh.
Hai câu
này ngụ ý ca tụng Thái-tử Tất-Đạt-Đa đang đêm ra khỏi thành đi tìm lẽ giải
thoát sau đó đắc pháp ở Tây-thiên, đi giảng kinh.
Tam bảo
linh ứng, phong điều vũ thuận,
Phật công
hiển hách quốc thái dân an.
Hai câu
này là ngụ ý nói: Tam bảo linh thiêng, khiến cho mưa thuận, gió hòa đó là công
lao của nhà Phật khiến quốc thái dân an.
Nơi có dấu
vết Thiên-đài còn đôi câu đối khắc vào đá :
Thiên-đài
đại đại phân Nam, Bắc.
Nghĩa là :
Từ sau vụ vua Minh tế cáo ở đây, đài thành Thiên-đài, biết bao đời phân ra Nam,
Bắc. Núi Ngũ-lĩnh năm này qua năm khác với giòng giống Việt-Thường. Chỗ miếu thờ
của Đào Hiển-Hiệu có đôi câu đối :
Nhất kiếm
Nam-hồ kinh Vũ-đế,
Thiên đao
Bắc-lĩnh trấn Lưu Long.
Nghĩa là :
Một kiếm
đánh trận ở phía Nam hồ Động-đình làm kinh tâm vua Quang-Vũ nhà Hán. Ý chỉ nữ
tướng Phật-Nguyệt đánh bại Mã Viện ở phía Nam hồ Động-đình. Một nghìn tay đao
do Hiển-Hiệu thủ ở Bắc núi Ngũ-lĩnh trấn Lưu Long.
Kết luận :
« Như vậy
việc vua Minh tế cáo trời đất là có thật. Vì có Thiên-đài nên thời Lĩnh-Nam mới
có trận hồ Động-đình. Hai sự kiện đó chứng tỏ lãnh địa thời vua Trưng cũng như
Văn-Lang xưa quả tới Ngũ-lĩnh, hồ Động-Đình ».
Lời kể
trong chuyến đi điền dã của học giả Trần Đại Sỹ cho ta thấy, tại tàn tích của
Thiên Đài còn dòng chữ khắc trên đá: Lĩnh địa niên niên dữ Việt-Thường. Đài
đá được xây thời Đế Minh. Nhưng dòng chữ
phải được khắc sau này vì là chữ có sau thời Xích Quỷ. Có thể đoán rằng
vào thời Đường, người dân Việt vùng Lĩnh Nam đã khắc câu đối để tưởng nhớ Quốc
Tổ và hướng về nước cũ. Điều này khẳng định người Việt Thường từ xa xưa là chủ
của đất Lĩnh Nam. Dòng chữ cũng gián tiếp nói rằng, đất Lĩnh Nam thuộc về nước
Văn Lang của các Vua Hùng. Tác giả Trần Đại Sỹ còn cho biết, tại Nam Trung Quốc
có tới 200 ngôi đền thờ Vua Bà. Những chứng cứ vững chắc cho thấy Lĩnh Nam là đất
xưa của nước Văn Lang.
Vào đời Đường,
Lý Triều Uy sáng tác tiểu thuyết Liễu Nghị truyện (柳毅傳). Tóm tắt như sau: “Liễu Nghị
là một nho sinh thi trượt, trên đường gặp một thiếu phụ chăn dê xinh đẹp nhưng
dáng vẻ tiều tụy. Người phụ nữ ấy nói rằng mình là con gái của Long Vương ở hồ
Động Đình, vốn lấy con trai thứ của Kinh Xuyên, nhưng bị bạc đãi, bắt đi chăn
dê, nên muốn nhờ Liễu Nghị chuyển thư đến cho cha để báo tình cảnh của mình. Liễu
Nghị đem thư xuống Long cung. Em trai Long Vương là Tiền Đường giận quá nên giết
con trai của Kinh Xuyên, cứu cháu về, rồi định gả cho Liễu Nghị. Nghị từ chối,
xin về, được Long vương ban cho nhiều vàng bạc châu báu. Sau Liễu Nghị lấy vợ,
lần nào lấy xong vợ cũng chết. Con gái Long Vương thấy vậy bèn nhớ lại duyên
cũ, muốn báo đáp bèn hóa làm người con gái xinh đẹp mà lấy Liễu Nghị làm chồng.
Sau hai vợ chồng đều thành tiên.” Liễu Nghị truyện được coi là một truyện
truyền kỳ sớm nhất của Trung Quốc. Từ cuối đời Đường, truyện đã được lưu hành rộng
rãi trong dân gian. Dựa vào lời Ngô Sĩ Liên trong sách Toàn thư: “Xét Đường kỷ
chép: thời Kinh Dương có người đàn bà chăn dê, tự xưng là con gái út của Động
Đình Quân, lấy con thứ của Kinh Xuyên, bị bỏ, viết thư nhờ Liễu Nghị tâu với Động
Đình Quân. Thế thì Kinh Xuyên và Động Đình đời đời làm thông gia với nhau đã từ
lâu rồi,” một số học giả cho rằng, Lĩnh Nam chích quái liệt truyện đã chép lại
từ tiểu thuyết thời Đường rồi sau đó Ngô Sỹ Liên đưa vào sử.
Tuy nhiên,
chúng tôi cho rằng đó là sự suy diễn theo cách nhìn thiếu chiều sâu lịch sử.
Trong khi thực tế là, câu chuyện về Lạc Long Quân-Âu Cơ đã được tiến sĩ Chu
Minh-Văn ghi lại trong Thiên-đài di sự lục vào năm Trinh Quán thời
Đường Thái-Tông (627-647). Cũng theo thời gian, câu chuyện đã thành truyền thuyết
trong dân gian người Việt, từ Nam Dương Tử tới Việt Nam. Từ câu chuyện dân
gian, khi dành lại quyền tự chủ, người tại Việt Nam ghi thành truyện Hồng Bàng
thị trong Lĩnh Nam chích quái rồi vào sử. Trong khi đó, vùng Hoa Nam đã thuộc về
Trung Quốc, người dân dù nhớ nguồn cội cũng không thể ghi vào sử. Dựa vào câu
chuyện tình, nhà nghệ sỹ viết thành tiểu thuyết. Do điều kiện lịch sử cụ thể,
tiểu thuyết ra đời trước. Nhưng cho rằng người Việt chép lại tiểu thuyết Trung
Hoa để tạo dựng nên nguồn cội của mình là cái nhìn chưa thấu đáo. Ngày nay với
khám phá mới về tiền sử người Việt cùng với đoạn ghi chép của Chu Minh Văn, điều
này càng trở nên rõ ràng.
Trước đây
đọc sử, không ít người thắc mắc là vì sao dân Vân Nam rất gần Việt Nam mà không
tham gia khởi nghĩa Hai Bà Trưng trong khi dân Lưỡng Quảng đi theo đông đảo?
Nay có thể trả lời: dân Lưỡng Quảng cùng trong nước Văn Lang với Việt Nam còn
Vân Nam thuộc về nhà nước Ba Thục vốn có sự phân cách từ xưa.
Có một câu
hỏi cần được trả lời: Việt Thường thị quan hệ thế nào với nhà nước Văn
Lang? Ta biết, nhà nước đầu tiên của phương Đông là nhà nước của bộ lạc
nên được gọi theo tộc danh mà chưa có quốc danh. Khi thấy sách cổ viết Bào Hy
thị, Thần Nông thị thì mọi người hiểu là nhà nước của bộ lạc Phục Hy, Thần
Nông. Chỉ tới Kinh Dương Vương, lúc này quốc gia đã lớn, bao gồm nhiều bộ lạc vì
vậy lấy tên một bộ lạc làm tên quốc gia tỏ ra không ổn nên dùng tên Xích Quỷ
làm tên nước chung cho mọi bộ lạc thành viên. Khi dời đô tới vùng hồ Động Đình,
trong nội bộ, dân vẫn gọi nhà nước Văn Lang và Hồng Bàng thị. Nhưng chính trị phương
Bắc vào thời Đào Đường đã ổn định, người Hoa Hạ nhìn xuống phía Nam, thấy sắc
dân Việt chuyên mặc váy nên dùng tên Việt Thường để gọi. Rồi tộc danh này trở
thành tên nước, ghi trong sách sử. Sau khi Văn Lang bị thôn tính, người dân Việt
Thường cũ không nhớ được tên Văn Lang và Hồng Bàng thị mà chỉ biết tới Việt Thường
được ghi trong sách sử nên nhận mình là người Việt Thường để rồi làm thành câu
đối khắc lên Thiên Đài. Người khắc cũng biết rằng, tên Việt Thường (người Việt
mặc váy) là tục danh mang tính kỳ thị, phải do ngoại nhân gọi, không thể do tổ
tiên tự đặt. Tuy nhiên đó là tên duy nhất có trong sách sử nên không thể không
dùng. Trong khi đó, tại Việt Nam, dân vẫn quen gọi quốc danh Văn Lang và Hồng
Bàng thị. Chính vì hai danh xưng khác nhau nên phần đông dân Văn Lang không biết
mình còn có tộc danh Việt Thường. Trong khi người Việt ở Nam Dương Tử không nhớ
tổ tiên mình là Hồng Bàng thị với quốc hiệu Văn Lang. Tuy nhiên, do cùng sống
trên một đất nước của các vua Hùng nên khi nhà tan, nước mất, những “dân ấp dân
lân” đã cùng nổi dậy cứu nước. Rõ ràng, người xưa biết việc này và Ngô Sỹ Liên
ghi vào sử “Nước Việt ta lần đầu tới thăm nhà Chu và tặng chim trĩ trắng” là
chính xác. Việc Hoàng Đế Quang Trung đòi nhà Thanh trả hai tỉnh Quảng Đông, Quảng
Tây cũng cho thấy sự thật lịch sử này. Nhưng tác giả Đại Việt sử lược do không đủ
thông tin nên chỉ công nhận Văn Lang theo ranh giới hiện có vì vậy cho rằng
“700 năm TCN, lập nước Văn Lang với 15 bộ trên đất Bắc Việt Nam.” Đáng tiếc là
các cán bộ chép sử ngày nay đã chép sai theo.
Trên đây
là suy đoán của chúng tôi về nước Văn Lang dựa trên tất cả thông tin có được
cho đến hôm nay. Một con rồng bay trên mây đang mất hút về phía chân trời. Thợ
vẽ bất tài là tôi ráng hết sức chỉ vẽ được đến vậy. Xin bạn đọc lượng thứ.
Trước đây,
trong bài Việt Thường thị ở đâu, Văn Lang ở đâu? có viết Việt Thường
cử sứ giả tới nhà Đào Đường là nước Việt tiền thân của Việt Vương Câu Tiễn. Nay
chúng tôi thấy đó là sai lầm vì tiểu quốc của Thiếu Khang chỉ xuất hiện cuối đời
nhà Hạ, khoảng năm 2100 TCN, xin được cải chính.
Sài Gòn, 11.4.2020
Tài liệu
tham khảo.
1.
Hà
Văn Thùy. Xóa bỏ huyền thoại “Nhà nước Văn Lang 2700 năm trước”
https://nghiencuulichsu.com/2019/09/06/xoa-bo-huyen-thoai-nha-nuoc-van-lang-2700-nam/
2.
Zhou
Jixu. The Rise of Agricultural Civilization in China: The Disparity between
Archeological Discovery and the Documentary Record and Its Explanation.
SINO-PLATONIC PAPERS Number 175
December, 2006
3.
Nguyễn
Đình Khoa. Nhân chủng học Đông Nam Á. NXB DH&THCH, H, 1983
4.
Hà
Văn Thùy. Nhà nước Xích Quỷ từ huyền thoại đến hiện thực. NXB Hội Nhà
văn, H, 2017.
5.
城头山古文化遗址
https://baike.baidu.com/item/%E5%9F%8E%E5%A4%B4%E5%B1%B1%E5%8F%A4%E6%96%87%E5%8C%96%E9%81%97%E5%9D%80/5087595?fromtitle=%E5%9F%8E%E5%A4%B4%E5%B1%B1&fromid=759871
6.
Trương
Thái Du. Một cách tiếp cận những vấn đề cổ sử Việt
Nam.http://123doc.org/document/1905966-mot-cach-tiep-can-nhung-van-de-co-su-viet-nam-truong-thai-du-pha-n-1-pdf.htm)
7.
Trần
Đại Sĩ. Về Thiên-đài nơi tế cáo của Đế Minh. -
http://www.vietnamvanhien.net/NuiNguLinh.pdf
BÀN LẠI VỚI GIÁO SƯ LIAM KELLEY VỀ “SỬ HỌC BÊN LỀ”
020001
BÀN LẠI VỚI GIÁO SƯ
LIAM KELLEY VỀ “SỬ HỌC BÊN LỀ”
Hà Văn Thùy
Đúng như tác giả khẳng định, bài viết “sử học bên lề” thể hiện
cách nhìn rất tích cực về một hiện tượng của sử học Việt Nam đương đại. Trong
đó, một số cá nhân đưa ra quan điểm chưa từng có về thời tiền sử của người Việt.
Là người nhiều năm nghiên cứu lịch sử Việt Nam và thường viết tiêu cực về sử Việt,
chuyên luận của Liam Kelley chắc chắn sẽ nhận được quan tâm của học giả quốc tế
và gây tiếng vang đối với người đọc Việt Nam. Tuy nhiên, bài viết của tác giả cũng
thể hiện sự hiểu biết chưa thấu đáo về hiện tượng độc đáo này. Vì vậy xin bàn lại
đôi điều.
1.
Về Hoabinhian.
Đúng như tác giả nhắc lại, học giả quốc tế nhận định về
Hoabinhian như sau: “Vào năm 1932, một cuộc họp của những nhà tiền sử được tổ
chức tại Hà Nội, đề xuất thuật ngữ Hoabinhian được dùng để chỉ những khu định
cư đầu tiên của con người được phân biệt bằng cách sử dụng các dụng cụ bằng đá
đẽo trên toàn hòn cuội (Matthews 1966: 86). Một đặc điểm xác định khác của địa
điểm Hòa Bình là không có bằng chứng về nông nghiệp, và do đó, thuật ngữ
Hoabinhian sau đó được sử dụng để chỉ các địa điểm Mesolithic. Thời kỳ
Mesolithic là giai đoạn trung gian giữa thời đại Cổ sinh và Đá mới và kéo dài từ
khoảng 15.000 đến 5.000 BCE, thời điểm mọi người vẫn tham gia săn bắn và hái lượm
hơn là nông nghiệp.” Điều này có nghĩa, hoabinhian chỉ là một “phức hệ kỹ
thuật” sản sinh những hòn cuội được đẽo trên toàn chu vi, vào thời Mesolithic,
phổ biến từ Nam Trung Quốc qua Đông Dương, Thái Lan đến các đảo Đông Nam Á.
Quan niệm như vậy là của 90 năm trước, khi khoa học chưa biết
người Hòa Bình là ai, người Vân Nam là ai, người Indonesia là ai? Và cũng chưa
hiểu vì sao những hòn cuội “giống như ở Hòa Bình” lại có mặt tại những nơi đó?
Nhưng nay, sau gần thế kỷ, khoa học đã xác nhận, 70.000 năm trước, trong Kỷ
Băng hà, mực nước biển thấp hơn hôm nay 130 mét, Đông Nam Á là lục địa Sundaland
rộng lớn. Người từ châu Phi theo con đường phương Nam di cư tới Việt Nam. Tại
đây họ hỗn hòa với nhau sinh ra người Việt cổ. 50.000 năm trước, người từ Việt
Nam di cư ra các đảo Đông Nam Á. 40.000 năm trước đi lên chiếm lĩnh Hoa lục để
rồi sau đó vượt eo Bering chinh phục châu Mỹ… Như vậy, chỉ có thể là, theo chân
người di cư, công cụ đá từ Hòa Bình được đưa tới những nơi mà hôm nay ta tìm thấy.
Một điều nữa cũng được khẳng định, các công cụ đó phải được phân tán trước khi
nước biển dâng, có nghĩa là trước 15000 năm trước! Không chỉ vậy, năm 2012 khám
phá khảo cổ cho thấy, đồ gốm đầu tiên ra đời ở Tiên Nhân Động tỉnh Giang Tây 20.000
năm trước và hạt lúa trồng đầu tiên cũng xuất hiện ở đó 12.400 năm trước. Tiên
Nhân Động cách sông Dương Tử hơn 100 km về phía nam, thuộc vùng Đông Nam Á. Khảo
cổ học và di truyền học cùng xác nhận, chủ nhân Tiên Nhân Động là người Lạc Việt,
chủng Indonesian, là con cháu người Hòa Bình Việt Nam đi lên…(1)
Một câu hỏi nảy sinh: với những khám phá như vậy ở đầu thế kỷ
XXI thì quan niệm của 90 năm trước còn phù hợp? Có sự thật là, trong khi sử gia
Liam Kelly tầm chương trích cú dẫn ra một Hoabinhian “chết” trên sách vở thì những
“sử gia bên lề” như Cung Đình Thanh, Nguyễn Thị Thanh… sinh ra trên đất Hòa
Bình hiểu về một văn hóa Hòa Bình sống động. Đó là nơi phát tịch của dân cư
châu Á, là nơi đầu tiên trên thế giới, người Việt làm ra công cụ đá mới, đồ gốm
và thuần hóa lúa nước! Thời gian và sự thật chứng tỏ họ đã đúng! Và cũng rõ
ràng, họ vượt qua tri thức của nhà sử học kinh viện.
2.
Đâu là nơi trồng lúa đầu tiên?
Trong bài viết, bằng cách đưa ra những chứng cứ xác thực,
Liam Kelley chứng minh rằng, Solheim đã xây dựng thuyết “Đông Nam Á là
trung tâm nông nghiệp sớm nhất” dựa trên những tư liệu khảo cổ học sai
lầm: “Thật vậy, vào cuối những năm 1970, các học giả khác nhau đã xác định rằng
các mẫu lúa mà Gorman và Bayard tìm thấy là lúa hoang, chứ không phải là lúa trồng,
(Yen 1980; 1982). Ngày nay, sự đồng thuận về mặt học thuật giữa những người tiền
sử trái ngược với những gì Solheim đề xuất, khi các chuyên gia cho rằng các
công nghệ như trồng lúa và luyện kim đều di chuyển xuống phía Nam vào Đông Nam
Á (Castillo 2011; Higham et al. 2015).” Với học giới quốc tế và hầu hết người
đọc, đó thực sự là đòn Knock out đối với Solheim! Tuy nhiên, buồn thay, việc làm
của Phó giáo sư Đại học Brunei Darussalam lại hoàn toàn vô nghĩa! Cũng lại do sự
thiếu cập nhật tài liệu. Những dẫn chứng khảo cổ mà ông đưa ra đều thuộc thập kỷ
1970s, nghĩa là của nửa thế kỷ trước! Ôi, 50 năm biết bao vật đổi sao dời! Khoa
học của thế kỷ mới không chỉ khám phá cây lúa đầu tiên được người Việt thuần
hóa từ 12.400 năm trước tại Tiên Nhân Động mà theo dấu vết cuộc hành trình vạn
dặm, tìm thấy tại văn hóa Giả Hồ Nam Hoàng Hà 9000 năm trước, người Lạc Việt chế
đồ gốm đen tinh xảo, trồng lúa, trồng kê, thưởng thức rượu vang làm bằng cách
ngâm rượu gạo với táo gai dầm mật ong, nghe âm thanh du dương từ sáo chế bằng
xương chim hạc rồi chiêm nghiệm chữ Mục, chữ Nhật, chữ Bát, chữ Hỏa… – những con
chữ đầu tiên của nhân loại khắc trên yếm rùa… Buồn cho người chậm chân, tám năm
trước, ngay sau khi khai quật Tiên Nhân Động được công bố, những “sử gia tay
ngang” của sử học bên lề Việt Nam đã khẳng định, người Việt
trồng lúa đầu tiên và Đông Nam Á là nôi của nông nghiệp!
Tuy vậy, tôi rất thông cảm với Liam Kelley bởi ông là sử
gia, cái nghề buộc phải “ăn theo” khoa học khảo cổ. Không ít nhà khảo cổ còn tệ
hơn ông, như Marc Oxenham của Đại học Quốc gia Úc chẳng hạn. Mới đây trong công
bố khai quật di chỉ Cồn Cổ Ngựa vẫn tiếp tục sự ngộ nhận đáng tiếc từ 2005, cho
rằng, 4000 năm trước, nông dân phía Bắc di cư xuống, trở thành người trồng lúa
đầu tiên phía Nam Dương Tử! (2) Vị học giả gắn bó thâm niên với khảo cổ Việt
Nam không hề biết rằng, 12.400 năm trước, dân Việt ở Nam Dương Tử thuần hóa
thành công cây lúa rồi truyền bá khắp đồng bằng Dương Tử, Hoàng Hà. Người nông
dân phía Bắc di cư xuống 4000 năm trước không phải người trồng lúa đầu tiên ở
Nam Dương Tử mà là cháu chắt của tổ tiên sống ở Nam Dương Tử mang cây lúa lên
Nam Hoàng Hà 9000 năm trước, khi chạy giặc trở về, khai phá những vùng đất còn
hoang sơ để trồng lúa! (3)
Như vậy, thực tế cho thấy, dù dựa vào một số chứng cứ khảo cổ
sai lầm nhưng trên tổng thể, thuyết của Solheim hoàn toàn chính xác. Do viễn kiến
thiên tài mà C. Sauer rồi Solheim nhìn xa thấy rộng trong thời điểm trí tuệ
nhân loại còn mù mờ. Công bằng phải nói rằng, công bố của Solheim cực kỳ quan
trọng, nó là chỗ dựa tinh thần, là niềm hứng khởi đột phá để những con
chim gọi đàn cùng nhau tìm về nguồn cội, làm nên đội ngũ mà hôm nay Liam
Kelley gọi là sử học bên lề. Dân tộc Việt cảm ơn ông vì việc đó.
3.
Về cuốn địa đàng ở phương Đông
Phải nói rằng, ban đầu cuốn sách của Oppenheimer tạo nơi
chúng tôi ấn tượng sâu sắc. Cùng với tác giả, chúng tôi tin và tiếc nuối cho nền
văn minh rực rỡ của Đông Nam Á bị đắm chìm. Nhưng rồi những khám phá mới của di
truyền và khảo cổ học giúp chúng tôi nhận ra:
i. Người di cư châu Phi không có mặt trên các hòn đảo Đông
Nam Á 70.000 năm trước. Dân cư của các đảo này chỉ từ Việt Nam tới cách nay 50.000
năm.
ii.Ngoài dụng cụ đá mới Hòa Bình từ Việt Nam đưa ra, trên
các đảo này trước khi bị nước nhấn chìm 15.000 trước, chỉ có thể có cây kê và một
số loại rau củ bán thuần hóa mà chưa phải nền nông nghiệp phát triển.
iii.Không có chuyện người từ Sundaland đi ra làm nên dân cư
châu Á. Thay vào đó là người từ Việt Nam đi ra chiếm lĩnh thế giới. Chúng tôi
đã trình bày điều này trong chuyên luận Ra khỏi Việt Nam chiếm lĩnh thế giới.(4)
Như vậy là, cuốn sách của Oppenheimer là nhiều khả năng là một
sản phẩm hư cấu.
4.
Thế nào là bằng chứng?
Điểm nổi cộm trong bài viết là Liam Kelley cho rằng “tiền sử
mới của người Việt” thiếu bằng chứng:
“Trong khi lập luận
rằng tổ tiên của người Việt Nam là những người sáng lập các khía cạnh khác nhau
của nền văn minh Đông Á thực sự vượt xa quan điểm thời thuộc địa khi thấy Việt
Nam là một Tiểu Trung Quốc, thì bằng chứng cho lập luận này là vô cùng có vấn
đề. Không dựa trên bằng chứng đáng tin.” “không phải là một phần của
khóa đào tạo học thuật mà tôi đã nhận được,” “không có trong tài liệu của sử
gia nhà nước Việt Nam.”“Hoặc các tác phẩm của nhà sử học người Mỹ Keith Taylor,
người có ý tưởng đã chuyển đổi từ quan điểm dân tộc chủ nghĩa Việt Nam sang cho
rằng có quá ít bằng chứng để khẳng định chắc chắn về quá khứ xa xôi, trong đó
không có tác phẩm nào được đưa ra rằng tổ tiên của người Việt đã chiếm lĩnh khu
vực của Trung Quốc ngày nay và thiết lập nền tảng của những gì cho chúng ta một
suy nghĩ như truyền thống văn hóa Đông Á”
Và
“Đối với bất kỳ ai ở ngoài Việt Nam đã nghiên cứu lịch sử
Việt Nam thông qua các kênh học thuật chính thống, các ý tưởng bày tỏ ở đây rằng
tổ tiên của người Việt chiếm lĩnh khu vực ngày nay là Trung Quốc và thiết lập một
nền tảng văn hóa mà giờ đây có thể là kim chỉ nam cho loài người, sẽ là không
quen.”
Loại bằng chứng mà Liam Kelley đòi hỏi thuộc về thế kỷ XX,
những tri thức sản sinh quan niệm “Việt Nam là một tiểu Trung Hoa” hay “người
Việt Nam là do Homo erectus tiến hóa thành”… Tất cả những thứ đó đã bị thế kỷ
XXI bỏ lại sau lưng. Như Carl Sagan từng nói: “Yêu sách phi thường đòi hỏi phải
có bằng chứng phi thường.” Chính là nhờ kết nối và giải mã một cách tuyệt vời
hàng tấn bằng chứng phi thường từ khảo cổ học, di truyền học xuất hiện trong hai
thập kỷ đầu của kỷ nguyên mới, chúng tôi khám phá ra sự phi thường của tiền
sử người Việt, đưa khoa học nhân văn Việt Nam đứng vào hàng tiên
tiến của nhân loại, như đánh giá của Tiến sỹ Nguyễn Đức Hiệp trong lời
giới thiệu cuốn Viết lại lịch sử Trung Hoa. Thật buồn là phó giáo sư Liam
Kelley đã không hiểu điều đó?!
5.
Về tiền sử người Việt
Hiện có ba quan niệm khác nhau về tiền sử người Việt: 1. Người từ Nam Trung Quốc bị dồn xuống đồng
bằng sông Hồng thành người Việt. 2. Một dòng di cư từ châu Phi tới Bắc Đông Á
làm nên người nông dân trồng lúa Trung Quốc. Sau đó người trồng lúa phía Bắc đi
xuống hỗn hòa với dòng di cư phương Nam tới Việt Nam làm nên dân cư Việt Nam. 3.
Người từ châu Phi di cư theo duy nhất con đường phương Nam đến Việt Nam rồi từ
đây người Việt đi ra làm nên dân cư châu Á và nhân loại ngoài châu Phi. Điều
này cho thấy, tiền sử người Việt là chuyện đang gây tranh cãi.
Thuyết thứ nhất phổ biến trong các cuốn chính sử phương Đông
cho đến thế kỷ XX, xuất phát từ quan niệm Người đứng thẳng Bắc Kinh (Homo
pekinensis) là tổ tiên của dân cư châu Á. Nhưng sang thế kỷ XXI, khám phá loài
người Homo sapiens xuất hiện ở châu Phi 200.000 năm trước nên thuyết này bị bác
bỏ.
Thuyết thứ hai ra đời vào những năm đầu thế kỷ XXI, khi
trung tâm di truyền lớn là Hội Địa lý Quốc gia Hoa Kỳ công bố: 45.000 năm trước,
một dòng di cư từ châu Phi qua Trung Đông sang Trung Á. Từ đây người tiền sử
xâm nhập Đông Á (5). Từ Con đường phương Bắc này ra đời quan niệm: người Trung
Quốc phát minh nông nghiệp sau đó mang nông nghiệp xuống phía Nam, hòa huyêt với
dân bản địa, làm nên dân cư Việt Nam.
Ngay từ năm 2005 khi bắt đầu hành trình tìm lại cội nguồn,
tôi đã phải chọn lựa kỹ giữa các tài liệu có quan niệm khác nhau rồi khẳng định
không có con đường phương Bắc đưa người vào Đông Á. Đây là sai lầm
tai hại của Spencer Wells thuộc Hội Địa lý quốc gia Hoa Kỳ. Các nghiên cứu di
truyền học sau này cũng cho thấy chỉ duy nhất con đường phương Nam đưa người tới
Đông Nam Á mà cụ thể là Việt Nam. (6) Tuy nhiên, một số tác giả do thiếu cập nhật
tài liệu, vẫn theo thuyết con đường phương Bắc, dẫn tới sai lầm nghiêm trọng.
Trong bài Phản biện kết luận về nguồn gốc người Việt của Dự án “1000 bộ gen người
Việt Nam,” chúng tôi đã chỉ rõ sai lầm của quan niệm này.(7)
Chúng tôi, tác giả của sử học bên lề kiên trì quan điểm:
Theo ven biển Ấn Độ Dương, người châu Phi tới Việt Nam 70.000 năm trước. Tại
đây, hai đại chủng Australoid và Mongoloid hòa huyết sinh ra người Việt cổ thuộc
nhóm loại hình Australoid. 50.000 năm trước, người từ Việt Nam lan tỏa ra các đảo
Đông Nam Á và chiếm lĩnh tiểu lục địa Ấn Độ. 40.000 năm trước, nhờ khí hậu ấm hơn,
người Việt đi lên khai phá Hoa lục. Ban đầu hoạt động săn bắn hái lượm, người
Việt mang theo rìu đá nên gọi mình là người Việt. Sau khi thuần hóa lúa nước,
người Việt mang cây kê, cây lúa, giống gà, giống chó lên xây dựng văn hóa nông
nghiệp tại Giả Hồ Hà Nam 9000 năm trước, Hà Mẫu Độ, Ngưỡng Thiều 7000 năm trước.
Tại Giả Hồ, người Việt chế chữ viết tượng hình đầu tiên khắc trên mai rùa và
xương thú. Tại khu mộ ở Dốc Tây Thủy, trấn Bộc Dương Hà Nam 6500 năm trước, nhiều
khả năng là mộ Phục Hy, có bằng chứng cho thấy Kinh Dịch đã trưởng thành.
Chúng tôi cũng lần đầu tiên xác định, 7000 năm trước, tại
văn hóa Ngưỡng Thiều miền Trung Hoàng Hà, người Việt cổ Australoid hòa huyết với
người Mongoloid sống trên bờ Bắc, sinh ra chủng người Mongoloid phương Nam
(South Mongoloid), được gọi là người Việt hiện đại. Người Việt hiện đại tăng
nhân số, trở thành chủ thể dân cư lưu vực Hoàng Hà. Năm 2698 TCN, người Mông Cổ
do Hiên Viên dẫn đầu đánh vào Nam Hoàng Hà chiếm đất của người Việt, lập nhà nước
Hoàng Đế. Chiến tranh liên miên dẫn tới cuộc di cư của người Việt chủng
Mongoloid phương Nam xuống Nam Dương Tử và Đông Nam Á, chuyển hóa di truyền dân
cư phía Nam từ Australoid sang Mongoloid phương Nam. Đây là quá trình chuyển
hóa di truyền lâu dài mà không phải cuộc xâm lăng thay thế dân cư. Những người
Việt ở lại đồng bằng Hán Thủy, sau này được gọi là người Hán. Như vây, người
Hán là cộng đồng do người Việt cổ sinh ra 7000 năm trước và ở lại lưu vực Hoàng
Hà. Do lịch sử hình thành như vậy nên tiếng Việt là chủ thể của ngôn ngữ Trung
Hoa. Chữ giáp cốt do người Việt sáng tạo là chủ thể của chữ viết Trung Hoa. Người
Việt là chủ thể làm nên văn hóa Trung Quốc. Đó là khẳng định của chủng tôi từ kết
nối và giải mã những tài liệu khảo cổ học, di truyền học mới nhất, đáng tin cậy
nhất của thế giới. Kết luận như vậy trên thực tế, vượt qua sự mò mẫm của học giả
quốc tế.
Ngày 14 tháng 7 năm 2012, trong Lễ tưởng niệm 15 năm ngày mất
triết gia Kim Định, tại Nhà Thái học, Văn miếu Quốc tử giám Hà Nội, tôi có nói:
“Những ai nắm vững thuyết Việt Nho và An vi của Kim Định sẽ có ngày đàng hoàng
bước tới dạy tại những đại học danh giá nhất thế giới.” Hôm nay cũng xin nói với
phó giáo sư Liam Kelly rằng, là người gắn bó sâu với lịch sử Việt Nam, ở tuổi
tri thiên mệnh, năng lực làm việc còn dồi dào. Nếu ông thấm nhuần ý tưởng Kim Định
và nắm vững tiền sử người Việt theo khám phá của “sử học bên lề” Việt Nam, ông có
khả năng trở thành học giả hàng đầu Đông phương học của học giới phương Tây.
Sài Gòn, Tháng Tư, 2020
Tài liệu tham khảo:
1. Xianrendong http://archaeology.about.com/od/xterms/qt/Xianrendong.htm
2.Marc Oxenham et al. Between foraging and farming:
strategicresponses to the Holocene Thermal Maximum in Southeast Asia.
3. Hà Văn Thùy. DI CHỈ CỒN CỔ NGỰA VÀ VẤN ĐỀ TIỀN SỬ NGƯỜI
VIỆT (THẢO LUẬN VỚI TIẾN SỸ MARC OXENHAM)
https://thuyhavan.blogspot.com/search?q=Di+ch%E1%BB%89+C%E1%BB%93n+C%E1%BB%95+Ng%E1%BB%B1a
4. Hà Văn Thùy. Ra khỏi Việt Nam chiếm lĩnh thế giới.
https://thuyhavan.blogspot.com/search?q=Ra+kh%E1%BB%8Fi+Vi%E1%BB%87t+Nam
5. Spencer Wells. The Journey of Man: A Genetic Odyssey.
https://www.amazon.com/Journey-Man-Genetic.../dp/069111532X
6. Hà Văn Thùy. NGƯỜI TIỀN SỬ RỜI CHÂU PHI THEO CON ĐƯỜNG
NÀO? http://thuyhavan.blogspot.com/search?updated-max=2019-04-11T02:11:00-07:00&max-results=1&start=19&by-date=false
7. Hà Văn Thùy. PHẢN BIỆN KẾT LUẬN VỀ NGUỒN GỐC NGƯỜI VIỆT
CỦA DỰ ÁN “1000 BỘ GEN NGƯỜI VIỆT NAM.”
http://thuyhavan.blogspot.com/search?updated-max=2018-11-22T05:51:00-08:00&max-results=1&start=26&by-date=false
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)
015004 LĂNG KÍNH LƯỢNG TỬ LUẬN LUẬT QUÂN BÌNH VÀ TRIẾT LÝ ÐẠI HÒA Thái Đông A
013001a NHẬP MÔN
013001a NGƯỜI VIỆT, TIẾNG VIỆT, ĐẤT NƯỚC VIỆT Một con người chưa hiểu biết về gốc gác của mình chưa thể là con người có văn hóa. Cũng n...

-
http://thuyhavan.blogspot.com/2021/12/giai-ma-huyen-thoai-lac-long-quan-au-co.html HỒNG BÀNG THỊ TRUYỆN, CUỐN SỬ ĐẦU TIÊN ...
-
021007 GÓP PHẦN ĐÍNH CHÍNH VỀ NĂM SINH VÀ NĂM MẤT CỦA HẢI THƯỢNG LÃN ÔNG LÊ HỮU TRÁC ...
-
013001a NGƯỜI VIỆT, TIẾNG VIỆT, ĐẤT NƯỚC VIỆT Một con người chưa hiểu biết về gốc gác của mình chưa thể là con người có văn hóa. Cũng n...