Thứ Sáu, 30 tháng 3, 2018

KINH DỊCH


Nhà nghiên cứu Đỗ Ngọc Thành, người Sài Gòn, gốc Triều Châu, Quảng Đông. 
Hiện sống tại Sacramento, California, USA.

KINH DỊCH

Đỗ Ngọc Thành

Nghiên Cứu Ngôn Ngữ của Kinh Dịch - phần thứ nhất
Khi nói đến kinh Dịch là :
-Thái cực sinh lưỡng nghi, lưỡng nghi sinh tứ tượng, tứ tượng sinh bát quái ...và truyền thuyết về Phục Hy , hoặc Long Mã , hoặc Hà xuất Đồ, Lạc xuất Thư, nào là Liên San Đồ, Quy Tàng Đồ, và Tiên Thiên hay Hậu Thiên Bát Quái, Chu Công Đán viết Hào Từ, rồi Khổng Tử viết thêm Thập Dực ! ...Quang trọng nhất là Dịch của thời nhà Chu lưu lại mà nhờ đó người ta biết đến kinh Dịch ! Vậy phải hiểu chính xát 2 chữ “ Dịch-
“ và “ Chu-” là nghĩa gì! Đó là cái chính trước hết cần phải hiểu cho chính xát!
Trước hết : vì sao phải nghiên cứu “ngôn ngữ “ của kinh Dịch ? Xin trả lời : để hiểu đúng về kinh Dịch và ý nghĩa, để hiểu rằng đó là ngôn ngữ và chữ viết của dân tộc nào? Để hiểu đúng về kinh Dịch và biết được chủ nhân của kinh Dịch phát xuất từ dân tộc nào!
Khi nói đến Kinh Dịch là nói đến Bát quái Đồ ! Bát quái Đồ chỉ là cái hình Bát giác với tâm là 1 hình tròn chia 2 nữa nầy và nữa kia quyện lấy nhau! Và 24 vạch xếp vòng quanh chia thành 8 nhóm , mổi nhóm có vạch gọi là Hào âm hoặc Dương tạo thành gọi là quẻ ; người ta tin rằng, qua tìm hiểu thì ngày xưa đồ hình nầy không có chữ - cho nên còn được gọi là “ vô tự thiên thư” ! Và truyền thuyết cho rằng Sáng tác ra Bát Quái Đồ là Phục Hy ! Đến thời vua Vũ nhà Hạ thì đã phát triển thành 64 quẻ, Đến thời nhà Chu , Chu Công Đán nghiên cứu và viết ra Hào Từ và ý nghĩa của các quẻ , thì được gọi là Chu Dịch -周易, sau nầy Khổng Tử lại viết thêm Thập Dực-十翼 cho Dịch - gọi là Dịch Truyện -易傳, và Dịch được xếp vào Tứ Thư - Ngũ Kinh cho nên gọi là Dịch kinh-易經 ; theo ngữ pháp Việt thì gọi là Kinh Dịch.
Kinh Dịch đứng đầu trong Tứ Thư Ngũ Kinh! Vì kinh Dịch đã ảnh hưởng toàn bộ và bao trùm về Văn Tự, Nghệ thuật, âm nhạc, triết học , tôn giáo, y học , quân sự, thiên văn, toán học ...mà thuở ban đầu Dịch chỉ là Bói - Đoán! Và trước khi dùng để Bói thì chỉ là 1 Hình vẽ không có chữ!
Ngày nay, thế giới ( nói chung ) mặc nhiên coi đó là thành tựu văn hoá cổ xưa của nước Trung Quốc ! Và xem đó là 1 phần của văn minh Trung Hoa! Là thuộc về văn hoá của
漢族-Hán Tộc! Các từ ngữ được dùng trong Kinh Dịch được gọi là Hán ngữ ! Được viết bằng Hán Tự! Hoặc nói theo sau nầy là của Trung Hoa!
Nhưng! Hai chữ
「中華- Trung Hoa là mới được người ta đặt ra - khi những người làm cách mạng để lật đỗ sự thống trị của Dân tộc 滿-Mãn, họ cần tìm và đặt ra một cái tên gọi chung cho toàn bộ các sắc dân sống trong cùng một đất nước dưới sự thống trị-cai trị bởi người Mãn là nước -Thanh/ hoặc gọi là -Chin! Chin là một bộ tộc riêng nằm trong khối đa số của Hung Nô-Mông Cổ, trước khi Chin khởi mạnh lên và dần dần độc lập thì Chin lệ thuộc tộc 契丹- khiết Đan và Mông Cổ! Khiết Đan cũng là một trong những nhóm Hung Nô đã nam tiến , họ đánh bại và chiếm cứ một phần ba nước -Tống ở góc Đông-Bắc và lập ra nước -Liêu; chữ -Thanh của người Mãn tự chọn tuy là viết khác , nhưng phát âm là Chin hay Chi cũng tương tự như chữ -Khiết , -Thanh hay là -Khiết chỉ là phiên dịch,và chúng ta cũng có từ kép là 清潔—Thanh-khiết!
Khi Với phát âm là “Chi” -người Chi
thì gọi là Chitan( phiên dịch : Chitan=>Khiết Đan-契丹)/ khitan/ khotan/Cathay V v...tuỳ theo tiếng Nga hoặc là ngôn ngữ của các dân tộc khác ; Từ người Chi-Chin của khiết Đan rồi đến Chi-Chin của nước Mãn Thanh -滿清 thống trị TQ từng thời và nỗi tiếng trên thế giới xưa và cận đại... cho nên thế giới quen gọi Trung Quốc theo tên cũ là Chi hay Chin...hình thành tên gọi chính thức của nước Trung Hoa là China! Người Và chữ viết với tiếng nói của China thì gọi là Chinese! Nguồn gốc Tên gọi “China/Chinese” là vậy! Còn tên gọi “ Hán” từ xưa là chỉ có sau khi Lưu Bang chiến thắng Sở Bá Vương Hạng Võ rồi lên ngôi hoàng đế , lập ra triều đại nhà Hán! Trước khi có nước Hán của Lưu Bang lập ra thì không có quốc gia nào tên là Hán ! và không có “ Hán tộc”! không có Hán ngữ, không có Hán Tự ...! thời Tần Thủy Hoàng, và thời Xuân Thu - Chiến Quốc của nhà Châu/ Chu - và trước đó nữa...ai mà nói có Hán Tộc - Hán ngữ-Hán Tự ? vì làm gì có dân tộc Hán! Chỉ sau khi có triều đại nhà Hán và đến khi nhà Hán hùng mạnh , chiến thắng cả Hung Nô thì người dân mới tự hào là Hán ! để xưng là người Hán ! rồi lâu dần mà thành Tên theo thói quen qua lịch sử!
Vậy thì :
-Truyền thuyết về thời Phục Hy -
伏羲 là chưa có Tên gọi là Hán - Tộc!
-Đến thời vua Vũ -
trị thủy của triều Đại nhà Hạ - thì Nhà Hạ lại là tổ tiên của dòng vua Việt - họ Lạc , điển hình là Việt Vương Câu Tiễn - 越王句踐 được chép trong Việt Tuyệt Thư-越絶書。
-Nước Việt -
và nước Ngô - đồng chủng tộc ! Và nước Ngô , thêm nước Tề - và thêm 1 số nước nhỏ theo chế độ phong kiến đều là do thân thuộc của Vua nhà Chu - được phong tước lập quốc : Đều đó cho thấy Triều đại nhà Chu / Châu - cũng là đồng chủng tộc với Việt tộc ! Và nước Sở - ở Trung Nguyên bao gồm vùng Động Đình Hồ lại là “ Sở Việt đồng tông đồng tộc-楚越同宗同族” ( theo sách “ Sử Ký” -史記/ Tư Mã Thiên-司馬遷).
-Tất cả những chi tiết nêu trên thật rõ ràng trong sách sử ! Chỉ là nó rời rạc mà không ai nhìn tổng thể và ráp nối lại! Ngày nay, từ sử gia chuyên môn cho đến học trò nhỏ đều có thể kiểm chứng bằng thông tin mạng toàn cầu! Điều nầy cho thấy bối cảnh và chủ nhân của Bát quái Đồ và Kinh Dịch ở Á Đông là từ người Việt và của người Việt đã sáng tạo và lưu truyền cho đến ngày nay! Nhưng theo thời gian lịch sử, chữ viết và văn hoá người Việt ở phía nam TQ từ phía nam Hoàng Hà xuống tận phương nam đến Giao Chỉ đã bị lai tạo và biến hoá khi các chủng tộc Hung Nô du mục đã nam tiến xâm chiếm và cầm quyền rồi họ bị đồng hoá mà Ngôn ngữ Việt bị biến đỗi thanh điệu và Tên gọi và bị ngộ nhân là ngôn ngữ của Hán tộc! Có thể định nghĩa rằng “ Việt hoá các tộc Hung Nô du mục rồi nhập chung người Sở và Việt là “ Hán” gốc Việt rồi gọi chung là Hán! “ : do đó mà lịch sử cũng như chủ quyền văn hoá của các chủng tộc Hung nô và Việt bị rối mù! Kinh Dịch không thoát khỏi bối cảnh đó!
Trở lại về ngôn ngữ ! Kinh Dịch và từ ngữ để xử dụng trong Kinh Dịch có trước thời nhà Hán và nỗi tiếng nhờ vào thời nhà Chu; chắc chắn Kinh Dịch có trước thời nhà Chu quá lâu thì thời nhà Chu mới có được Kinh Dịch ! và nhờ có công của ông Chu Công -周公 là Cơ Đán -姬旦nghiên cứu và ứng dụng vào thuật bói toán, mà từ đó nó được dể dàng lưu truyền và nỗi tiếng! Muốn biết ngôn ngữ và nghĩa của các chữ viết mà Kinh Dịch đã dùng từ thời nhà Chu là gì thì trước hết là phải tìm hiểu nghĩa của Chữ -Dịch là gì ? Và “ -Chu” là gì ? Vì kinh Dịch được lưu truyền từ nhà Chu!
Vậy! các từ ngữ quan trọng liên quang trong Kinh Dịch bắt đầu từ thời nhà Chu có ý nghĩa chính xát là gì ? và là ngôn ngữ của Dân tộc nào? Đó là lý do cần nghiên cứu và kiểm chứng theo tinh thần khoa học !
Qua phân tích mối liên hệ chủng tộc của các nước Việt - Ngô - Tề - Chu với Sở đã nêu phía trên, đủ thấy nhà Chu là người Việt-
và chữ Dịch- và chữ Chu - là chữ Việt là tiếng Việt! Và qua bao thăng trầm của lịch sử và sự Hung Nô hoá trên đất China , đã làm tiếng Việt và chữ Việt ở China bị tha hoá biến nghĩa , khiến cho Chinese và những người học theo Chinese tuy dùng chữ vuông / chữ Việt cổ mà nay gọi là Trung văn hay Hán Tự lại hiểu Hán tự như người mù xem voi ! Tất cả quý vị nào là học giả nghiên cứu Hán tự, là giáo sư dạy Hán văn, là nhà thơ , nhà văn viết bằng Hán Tự, là nhà Triết học hay Sử học, là Tiến sĩ ngôn ngữ chuyên Hán văn Hán tự xin hãy chú ý đều nầy: Thơ của thời Trung Cổ từ Nhà Tống- và Đường Thi 唐詩 của Thời nhà Đường - thì chỉ đọc được bằng phát âm của tiếng Quảng Đông - 廣東 hoặc Triều Châu - 潮州 ở phương nam của TQ ngày nay thì mới phù hợp ! Và đặt biệt là chỉ đọc Đường Thì bằng phát âm của tiếng Việt của người VN ngày nay thì mới hoàn toàn phù hợp đúng VẦN và đúng luôn luật BẰNG BẰNG TRẮC TRẮC - 平平仄仄 của thơ ! Xưa hơn nữa là , thời nhà Hán có lưu lại sách THUYẾT VĂN GIẢI TỰ - 説文解字 , nếu đọc sách đó bằng Chinese ManDarin ngày nay là không thể nào đọc thông hay hiểu rõ! Thời của Khổng Tử dạy học là thời nhà Chu ! Các vị nào rành rọt tiếng Quảng Đông mà có nghiên cứu văn bản và văn phạm của thời trước khi nhà Tần - thống nhất trung nguyên sẽ thấy 1 chứng minh là “ Hán văn” xưa có văn phạm ngược với Chinese thời nay và các chữ Cổ và HIẾM trong đó toàn là những phần Việt mà các phương ngữ Việt phương nam ngày nay vẫn giữ được và còn đang dùng ! Chi bằng nói cho rõ ? Là Khổng Tử dạy học bằng tiếng Việt và : Chu Dịch , kinh Dịch , với chữ Chu - và chữ Dịch - là chữ Việt - và tiếng Việt của thời nhà Chu!
Xét về chữ -Dịch :
Dịch -
là gì ?
Nếu rành chữ Nho hay nghiên cứu về kinh Dịch hoặc tra tự điển V v ...từ xưa đến nay thì sẽ thấy giản giải là :
—Dịch -
là :
Nhật -
và Nguyệt - là Dịch
Âm -
và Dương- tương tác là Dịch!
Dịch -
là Biến Dịch-變易,là Giản Dịch簡易,là Bất Dịch-不易 ! ...
Từ sự hiểu theo định nghĩa nêu trên mà ngày nay người ta dùng chữ Dịch theo nghĩa là Mậu Dịch-
貿易, Giao Dịch -交易 để nói về sự buôn bán và trao đỗi qua lại! ...giải nghĩa và hiểu như vậy chỉ là phần ngọn và sai nghĩa gốc ! Và nếu như sai nghĩa gốc thì làm sao hiểu được “kinh Dịch” nghĩa là gì !
Xin giải thích theo tôi đã nghiên cứu :
Dịch có nghĩa là HỊCH , ( tương đương bên tiếng Anh là HEAT ) , biến âm của âm H thành ra D sinh ra phát âm là “ Dịch “; biến âm của H biến thành âm câm và rụng bớt phụ âm bên tiếng Băc Kinh sinh ra phát âm là “í -

Ngày nay :
Tiếng Việt đọc là “ Dịch-
”.
Tiếng Việt vùng Quảng Đông / tiếng Quảng Đông đọc “ Dịk-
”.
Tiếng Triều Châu / Mán / Mường/ Mân ngữ / Mân Việt ngữ đọc là “ ịk-

Tiếng Bắc Kinh / ManDarin đọc là “í-
”.
Tiếng Anh / English phiên âm là “ Y -
”.
Chữ Dịch-
là chữ tượng hình, là vẽ hình mặt trời phát sáng tức là NHIỆT năng tỏa sáng!
Chữ Dịch -
và chữ Nhật- ( mặt trời) giống nhau , nhưng được đơn giản hoá cách khác nhau để phân biệt “ mặt trời” và “ Nhiệt” ( sức nóng của mặt trời).
(Chữ Nhật -
là mặt trời , thuở ban đầu được vẽ hình mặt trời phát sáng Description: https://static.xx.fbcdn.net/images/emoji.php/v9/f6d/1/16/2600.png️là 1 vòng tròn chính giữa và các tia sáng bao quanh, dần dần đơn giản hoá các tia sáng của mặt trời trở thành 1 tia đại diện đặt nằm trong vòng tròn! Rồi lại vuông hoá chữ tượng hình thành ra hình vuông như đã gọi là “ chữ vuông/ vuông chữ / văn tự - 文字” , thì thành ra chữ Nhật - như ta thấy ngày nay!)
Chữ Dịch -
cũng vẽ hình mặt trời với các tia sáng đang tỏa Nhiệt Description: https://static.xx.fbcdn.net/images/emoji.php/v9/f6d/1/16/2600.png️ , rồi lại đơn giản hoá thành ra chữ Nhật- phía trên cộng thêm chữ Vật - ở dưới chính là các nét vẽ tia sáng bao quanh được gôm lại tạo thành! Dịch - là Nhiệt , là Hịch , là sức nóng ánh sáng của ngôi sao tỏa sáng / Nhiệt / sự cháy nóng tạo ra ánh sáng ; cho nên “ Dịch -” là Nhiệt / nóng , và “Hịch “ cũng là Nhiệt/ nóng! Ví dụ : Hịch cần vương, Hịch tướng sĩ ...nghĩa là Nóng! Bỏng, gấp, cần ngay lập tức thì dùng chữ “ Hịch “!
*Còn đây là chứng minh Ví dụ cụ thể về nghĩa của chữ Dịch -
là Nhiệt, là nóng :
Thời nhà Chu-
, giai đoạn sau của thời đó gọi là thời XUÂN THU CHIẾN QUỐC-春秋戰國 , khi tiễn biệt Kinh Kha -荊軻 rời khỏi Yến
quốc-
燕國 , trên đường qua sông Dịch - để đi thích khách Tần Thủy Hoàng thì Cao Tiệm Ly - 高漸離 kéo Đàn và hát để tiễn đưa Kinh Kha như sau :
風蕭蕭易水寒
Phong tiêu tiêu Dịch thủy hàn
壯士一去兮不復還
Tráng sĩ nhất khứ hề bất phục hoàn
探虎穴兮入蛟宮
Thám Hổ huyệt hề nhập Giao cung
仰天呼氣兮成白虹
Ngưỡng thiên hô khí hề thành bạch Hồng
Giai thoại trên được ghi lại trong Chiến Quốc Sách - 戰國策/ Yến Sách Tam - 燕策三.
Dịch Thủy -
易水 là con sông Dịch- tại Dịch Huyện -易縣 của tỉnh Hà Bắc - 河北 Tại Trung Quốc ngày nay! Nước sông rất ấm dù ngay mùa đông vì có nguồn nước nóng ! Vì “ nóng “ và “ Nhiệt-” cho nên gọi là Dịch Thủy -易水 / tức là sông Dịch !
Kinh Kha lên đường để thích khách Tần Thủy Hoàng là Đi vào cõi chết ! một ra đi là không bao giờ trở lại! Cảnh qua sông Dịch -
gió hiu hiu để đi vào cỏi chết của Kinh Kha làm Cao Tiệm Ly cảm thấy sợ phát lạnh run và diễn tã bằng “ nước nóng cũng cảm thấy phải biến thành lạnh”! Cho nên dùng ba chữ “ Dịch thủy hàn-易水寒” ( trong khi Dịch thủy là con sông mà nước vẫn ấm trong mùa Đông cho nên được đặt Tên là Dịch -thủy ! ( “nước nóng mà bị lạnh” để diễn tã sự ghê rợn! ).
Tôi đã dùng 1 đoạn thơ của ngay thời nhà Chu -
để giải thích chữ Dịch -của thời nhà Chu ! Dịch - có nghĩa là HỊCH ! là NHIỆT!
=> Vậy mà các nhà ngôn ngữ và nghiên cứu kinh Dịch không tìm nghĩa, không đối chiếu , để hiểu Chữ Dịch -
là gì để hiểu nghĩa “ kinh Dịch “ là gì !
Kinh -
là đi , là theo , là đi theo ! Dịch là sức nóng là Hịch là Nhiệt ngôi sao/mặt trời; kinh Dịch là theo Nhiệt ngôi sao/mặt trời-biểu đồ Bát Quái với Thái cực chính giữa và 8 quẻ chung quanh chỉ là hình vẽ :
1 là mặt trời/ ngày và đêm ( khi mặt trời lặn là đêm ) ở giữa !
2 là các tia sáng / nhiệt của mặt trời chiếu rọi từ bình minh cho đến hoàng hôn khi là ban ngày và các tia-vạch tương ứng khi là ban đêm ...và cộng lại rồi đơn giản bằng 24 tia , chia mỗi nhóm 3 vạch và lại phân vạch âm với dương thành ra 8 quẻ / bát quái!
Người ta tìm thấy nhiều Sự hình thành các hình vẽ cổ xưa với các chấm tròn có hình xoắn ốc , mà đồng tâm ! ở khắp châu lục ! Đã được nhân loại ngày nay nghiên cứu kỷ lưỡng và thấy rõ rằng là : các chấm tròn xoắn ốc là điểm rọi của tia mặt trời chiếu qua 1 trụ đứng thắng mà nhân loại xa xưa dùng để xem bóng nắng để biết thời gian của ngày, tháng, năm theo các ĐIỂM CỦA TIA NẮNG TẠO NÊN LÀ LUÔN DI CHUYỂN ... khi mặt trời lên và lặn xuống!
...Trong một ngày thì khi mặt trời đứng bóng là ngữa mặt lên mới là hướng thấy mặt trời thì gọi là giờ Ngữa/ Ngựa ( dùng hình Ngựa để nói ý Ngữa! Và giờ đây người ta gọi đó là giờ Ngọ! Và lại giải thích Ngọ là Con Ngựa) ; trong một năm thì mỗi 15 ngày là ánh nắng bình minh xuất hiện có chênh lệch khi rọi chiếu qua trụ quang sát ! Một năm 12 tháng, mổi tháng 30 ngày là có 2 phần 15 ngày, mỗi 15 ngày thì ánh sáng có sự thay đỗi rõ ràng một cách nhất định! Chia đều cho 12 tháng thì có 24 thời khí trong một năm! ( chủ yếu là 4 thời khí chính mang tên là LẬP XUÂN, HẠ CHÍ, LẬP THU , ĐÔNG CHÍ và các “ tiểu thời khí khác kèm theo trong mùa” ( xem 24 thời khí 1 năm của lịch)!
Đó là vì sao thế giới đã phát hiện các vòng tròn với các chấm xoắn ốc đồng tâm khắp nơi ở hầu hết trên các châu lục của thế giới , và cũng tìm ra vòng đồng tâm gồm 24 chấm chính để phân biệt 24 thời khí trong năm!
Và hình Bát Quái của Kinh Dịch thì theo tôi thấy : lại đúng là “ mặt trời” chính giữa ! Và bát quái với mỗi quẻ gồm 3 hào, thì đúng là phù hợp với 24 thời khí của 1 năm! Và lại phù hợp với 24 giờ của mỗi ngày ! Và hình tượng bát quái đó chính là biểu đồ của Mặt trời / Nhật / Dịch / hịch / nhiệt để tính ngày , tháng và năm ...và người xưa đã gọi là Dịch-
, rồi kinh Dịch ! Và chữ Dịch - là chữ Vẽ hình mặt trời Description: https://static.xx.fbcdn.net/images/emoji.php/v9/f6d/1/16/2600.png️ đang tỏa Nhiệt/ ánh sáng!
Xét về chữ Chu - .
Chu -
hay Châu- là 2 cách đọc bên tiếng Việt!
Ngày nay China, Chinese và những người học Hán tự chỉ biết chữ Chu nầy là Tên của triều đại nhà Chu thời xưa! Và hiện nay chút hiểu và dùng theo nghĩa : chu toàn, chu chuyển, châu thân ...cho dù là bật thầy về “ Hán ngữ” hay tra hết tự điển thì cũng chỉ vậy mà thôi!
Xin giải thích!
Chữ tượng hình Chu hay Châu là vẽ hình cái đầu con Trâu! Description: https://static.xx.fbcdn.net/images/emoji.php/v9/fcf/1/16/1f403.png🐃
Hình vẽ con Trâu bằng cái đầu Trâu với mồm to và trán nhăn nơi tiếp Giáp 2 sừng Trâu mọc oằn xuống rồi cong trở lên lưỡi liềm nằm ngang , cứ nhìn hình mục đồng thổi Sáo lưng Trâu và các hình Trâu chính diện thì sẽ thấy!
Vì sao triều đại Chu hay Châu lại mang Tên và chữ là Trâu-
?

Bởi vì theo lịch sử thì nhà Châu đã làm lễ cắt đầu Trâu uống máu ăn thề cùng với hơn 800 chư hầu các bộ tộc lớn nhỏ khác để làm khởi nghĩa lật đỗ Trụ Vương của triều nhà Thương! Lễ chặt đầu Trâu rồi cầm đầu Trâu đưa lên cao làm lảnh đạo cuộc khởi nghĩa đã để lại tích , và trở thành ra thành ngữ “ người cầm đầu” là từ tích nầy mà lưu truyền! Sau khi lật đỗ triều Thương thì nhà Châu thay thế với quốc hiệu là Trâu - !
-chữ Châu - tức là Trâu gồm : = quynh- / thật ra là hình vẽ 2 sừng Trâu 2 bên cong quặp xuống + thổ- / thật ra là vùng trán - cái đầu của Trâu + khẩu - / thật ra mũi và miệng Trâu rất to !
Chữ Trâu -
vẽ hình đầu Trâu có 2 sừng đúng tích chém Trâu cầm đầu khởi nghĩa lật đỗ triều nhà Thương - là Tượng -( chữ Thương vẽ hình Với đứng cao đồ sộ với 2 lỗ tai to và cái Vòi đại diện là chữ khẩu hình vuông chính giữa- chữ Tượng là vẽ hình Với đứng nghiên ). Từ chữ Trâu đọc thành Châu hay Chu , lâu quá làm người ta quên mất nghĩa của Trâu - ! May thay ! Trong tiếng Việt ngày nay vẫn dùng Tên con Trâu ! Cho nên tôi mới tìm ra chữ nầy! Bên Hán ngữ ngày nay gọi Trâu là Thủy Ngưu-水牛 ! Chữ Ngưu - mà thêm cái đuôi lại là một chữ Trâu - khác mà ngày cũng đọc thành Chu hay Châu đó là họ Châu / Chu như vua đời nhà Minh là Chu Nguyên Chương-朱元璋 . Trong tiếng Việt thì phát âm “ Trâu “ là rất quí! Hạt Trâu là dùng để ăn và vỏ Hạt Trâu ( Đạo / gạo ) màu vàng giờ lại quen dùng gọi là Vỏ Trấu! Ăn Trấu bây giờ bị trại âm là ăn Cháo! Trong khi nhiều nơi ở Ấn Độ thì Cơm để ăn họ gọi là “ chao” hay “ chô/ chố”! Hột xoàn là Minh Trâu bây giờ là Minh Châu-明珠 Nhưng ...cái lá rất là quý để ăn Trầu Cau thì giữ nguyên âm Trâu nhưng thêm dấu huyền là Trầu! ...Trâu hay Tru lại có dân tộc thiểu số tách T và R và biến R thành ra L để gọi con Trâu là Tlu ! Và con Heo rất quý xa xưa để ăn thịt lại gọi là “ Trư-“và Triều Châu lại gọi là Tưa hay Tua豬!xưa và nay nhiều khi vẫn không phân biệt các dấu thanh cho một số chữ ! Ví dụ , yên tỉnh và yên tịnh! Lặng nghe hoặc lắng nghe !...
Những lớp bụi mờ của lịch sử làm rối mù cả chữ nghĩa và chủ quyền văn hoá ! Người Chinese không biết rằng chỉ có người Việt, tiếng Việt mới hiểu nổi cách viết và ý nghĩa của phát âm chữ Trâu mà bây giờ đọc là Châu hay Chu ! Và cũng sẽ không hiểu nỗi cách viết và cách đọc chữ Nhịch/ Nhiệt-nhật biến thành Hịch , biến thành Ịk và Dịch như VN ngày nay và thành ra í bên Chinese ngày nay !
* Từ quan hệ Lịch sử của các nhóm Việt và các nước Việt của họ, và từ chữ viết cho đến Phát âm của các văn bản tận xa xưa và được dùng trong Kinh Dịch , đủ thấy Kinh Dịch và Chu Dịch là của Việt tộc ! Xưa có nhiều nước của người Việt quá cho nên gọi là BÁCH VIỆT! Nếu không có một tộc Việt thuở ban đầu để dần dần phân nhánh thành ra BÁCH VIỆT thì sao lại cùng là Việt ! Có rất nhiều quá nhiều người lại cho rằng BÁCH VIỆT là gốc! Và Nam Việt tức VN ngày nay và Việt Quảng Đông với Mân Việt Triều Châu và Phước Kiến là các nhánh riêng và không liên quan với nhau - và VN là Việt ! Còn các Việt kia là Tàu! Ngớ ngẫn! Một Mẹ sinh ra nhiều con ...chứ làm sao nhiều con sinh ra một Mẹ ?!? Tinh thần cục bộ địa phương thiếu can đảm và tự ti hoặc tự tôn quá mức làm thui chột tinh thần khoa học ! Cứ cái gì xấu là Địch và tốt thì là ta ! Chính vì vậy mà làm cho việc nghiên cứu ngôn ngữ và lịch sử trở thành “ nhiệt tình + thiếu minh bạch = trở thành phá hoại!
* Phần tiếp theo sẽ phân tích thêm các từ ngữ liên quan được dùng trong kinh Dịch của kinh Dịch ! Nhưng đó là phần 2 ! Bài viết nầy tôi không dùng các link hay tài liệu liệt kê ra để dẫn chứng! Bởi vì quý vị nào có sách và đọc qua những chi tiết tôi đã nhắc đến thì đã rõ ! Quý vị nào chưa đọc qua hay không có sách trong tay , thì chỉ cần viết ra hay copy những chữ tôi đã cố ý vừa viết chữ Việt ABC vừa kèm theo chữ Nho để tra cứu bằng google thì sẽ thấy! Không cần tốn nhiều tiền mua sách trong thời đại thông tin toàn cầu hiện nay ! 

Cám ơn các vị nào quan tâm và xin chúc sức khỏe và vui vẽ ...
( hình tượng trưng ...làm nháp! Chưa thể hiện đúng và chuẩn ! Chỉ để gợi ý : từ các quẻ mà tạo thành chữ viết mà tôi sẽ trình bày trong tương lai ...)

Bát Quái:
Xem

||| (
) Càn,  ||: () Đoài, |:| () Ly, |:: () Chấn,
:|| (
) Tốn,  :|: () Khảm, ::| () Cấn, ::: (
) Khôn

Bài liên quan
014005 Không có cái gọi là từ Hán - Việt by Hà Văn Thùy (www.thuviencoinguon.com)


Thứ Năm, 12 tháng 10, 2017

BUỔI GIỚI THIỆU SÁCH NHƯ MÔT HỘI THẢO KHOA HỌC

DIỄN ĐÀN




017001 BUỔI GIỚI THIỆU SÁCH
NHƯ MỘT HỘI THẢO KHOA HỌC

Ghi chép của Lê An Vi

       Ngày 07.10.2017, tại Làng Sinh Viên HACINCO, Thanh Xuân, Hà Nội, Trung Tâm Văn Hóa Minh Triết kết hợp với Trung Tâm Văn Hóa Đông Tây, tổ chức Buổi giới thiệu sách NHÀ TRIỆU - MẤY VẤN ĐỀ LỊCH SỬ của nhiều Tác giả, do Nguyễn Khắc Mai & Trương Sỹ Hùng đồng chủ biên.

       Trong không khí văn hóa đọc của Không gian Văn hóa Đông Tây (TTVHĐT), với sự hiện diện của gần bốn mươi vị khách mời là các nhà khoa học lịch sử, khảo cổ, Hán Nôm, ngôn ngữ, nhân chủng, kinh tế-chính trị, kiến trúc, các nhà nghiên cứu văn hóa lịch sử, đại diện Dòng Họ Triệu, các nhà giáo cùng các độc giả quan tâm sự kiện Nhà Triệu - Mấy vấn đề lịch sử.
       Buổi tọa đàm giới thiệu sách diễn ra sôi nổi ngay từ lời mở đầu rất tự nhiên của GS.TS Trương Sỹ Hùng, chia sẻ những trải nghiệm từ việc thu thập tài liệu cho ý tưởng mở hội thảo về Triệu Vũ Đế, đến xuất bản sách, Lễ dâng sách và đến buổi tọa đàm hôm nay. Ngay sau đó là hàng loạt các câu hỏi nối tiếp nhau, tạo một không khí thảo luận sôi nổi, thẳng thắn, cầu thị và hiểu biết lẫn nhau.
       Năm câu hỏi đặt ra từ phía độc giả được rút gọn trong ba câu:
1.     Triệu Vũ Đế là ai?
2.     Căn cứ bác bỏ Nhà Triệu khỏi chính sử Việt Nam thời VNDCCH. “Ai đang tâm xóa bỏ vị trí Nhà Triệu khỏi chính sử và nguyên nhân sâu sa của vấn đề” (nguyên văn câu hỏi)
3.     Nên căn cứ vào khoa học chứ không vào tâm linh để nghiên cứu lịch sử. (Trong đó xác định khái niệm quốc gia, dân tộc)

Trả lời
1.     Triệu Vũ Đế là ai? – Tiến sĩ Sử học Nguyễn Hữu Tâm, Viện Sử Học.
       Với tư cách là một chuyên gia chịu trách nhiệm nghiên cứu và biên soạn chuyên mục về nhà nước Nam Việt và Triệu Vũ Đế trong Tập I, Bộ Quốc Sử VN 15 tập. TS. Tâm trình bày theo chính sử Trung Quốc thì Triệu Đà là người nước Tần, được Nhà Tần điều xuống phía Nam làm Úy quận. Khi nhà Tần suy yếu đến sụp đổ, ông quyết định ở lại và xưng Đế tại Nam Việt Quốc. Bằng cách ứng xử khôn khéo với văn hóa và người Việt bản địa, từ cách ăn mặc, búi tóc, tiếp khách... và... lấy vợ Việt, sinh con cháu đến ba đời tại Nam Việt.
       GS, Băng Thanh, Nhà nghiên cứu văn học Việt Cổ chia sẻ phần nghiên cứu của mình về Sử gia Ngô Thì Sĩ trong tình huống chối bỏ vị trí của Triệu Vũ Đế trong lịch sử. Đó là liên quan đến việc con cháu Triệu Đà có quan hệ dễ dãi với Nhà Hán, dẫn tới Nam Việt rơi vào tay Nhà Hán. Có thể Triệu Đà không có lỗi, nhưng con cháu của ông đã gây hậu quả thì Nhà Triệu phải gánh chịu tất cả.
       GS. Băng Thanh nhấn mạnh, tuy không phải là người khai quốc, nhưng Triệu Đà đã làm nên kỳ tích là vị Vua nước Việt đầu tiên xưng Đế ngang hàng với nước Tần Hán đương thời. Sau này được Nguyễn Trãi ngợi ca và ghi nhận trong Bình Ngô Đại Cáo:  "Từ Triệu, Đinh, Lý, Trần bao đời xây nền độc lập Cùng Hán, Đường, Tống, Nguyên, Minh mỗi bên hùng cứ một phương".
      Như vậy, có thể nói Triệu Đà là người Việt gốc Chân Định, Nước Tần.
Lời bình:
-         Thực chất, khi lùi lại lịch sử, từ thời Hạ, Thương, Chu, Đại chủng Viêm Việt/Viêm Đế/Viêm Chủng đã làm chủ 18 tỉnh khu vực từ Nam s. Hoàng Hà đến s. Dương Tử với các tộc dân như Tam Miêu, Tứ Di, Cửu Lê và nhân rộng thành Man, Nam Man, Nhung, Địch, Kinh Dương, Kinh Man... Theo đó, nước Tần lại là một phần của  Viêm Việt với tộc Tây Nhung. Tây Nhung vốn là dân nông nghiệp nhưng sống trên địa hình đồng cỏ, sau trở thành dân du mục và biến tính thành dũng mãnh, hiếu chiến. Tách khỏi Nhà Chu, lập Nhà Tần, xóa bỏ Vương Đạo chuyển sang Bá Đạo và liên tục mở các cuộc chinh phạt các lân bang tới tận phía Nam.
-         Để hiểu thấu đáo cội nguồn lịch sử văn hóa Việt, quý vị có thể tìm đọc cuốn sách “Việt Lý Tố Nguyên” của Kim Định, NXB Hội Nhà Văn 2017.

2.     Căn cứ bác bỏ Nhà Triệu khỏi chính sử. – Nhà nghiên cứu Tạ Đức
       Nhìn chung, các ngành khoa học ở Việt Nam đều bị chi phối hay phụ thuộc vào chính trị, nhất là khoa học xã hội nhân văn. Một sự thật hiển nhiên rằng,  từ cổ chí kim, sự ghi chép chính sử luôn theo ý chí của chính thể cai trị, triều đình, nhà nước hay ý chí của một vị vua, một thủ lĩnh của một quốc gia.
       GS.TS Trương Sỹ Hùng đưa ra dẫn chứng cụ thể cho rằng nhóm lãnh đạo chủ trương loại bỏ Nhà Triệu trong cuốn Lịch sử Việt Nam Tập I, 1971, đã bất chấp lịch sử từng công nhận vai trò khai quốc của Triệu Vũ Đế trong Đại Việt Sử Ký Toàn Thư của Lê Văn Hưu, Bình Ngô Đại Cáo của Nguyễn Trãi, Việt Sử lược của Trần Trọng Kim, Bài ca Việt Minh của Hồ Chí Minh.
Câu trả lời này quý vị độc giả có thể tìm đọc ngay trong cuốn sách đang giới thiệu. (Bài “Xác định lại vai trò của Nhà Triệu trong lịch sử Việt Nam” tr.74)

3.     Nên căn cứ vào khoa học chứ không vào tâm linh để nghiên cứu lịch sử. – GS.TS Trương Sỹ Hùng
       Với quan điểm học thuật chuyên ngành, vị giáo sư chỉ rõ nguồn sử liệu nước ta từ nghiên cứu khoa học lịch sử và nhân văn rất hạn hẹp, trong khi nguồn sử liệu phong phú và khá đầy đủ lại ở trong kho tàng văn hóa dân gian, nhất là lĩnh vực tín ngưỡng & tôn giáo, chiếm hơn sáu mươi phần trăm tổng số tư liệu. Một kho tư liệu đồ sộ bao gồm ca dao, tục ngữ, cổ tích, huyền thoại, truyền thuyết, truyền kỳ, lời du, diễn xướng dân gian, thói tục, tín ngưỡng, tôn giáo, định chế, phép tu luyện... còn đang bỏ ngỏ.
       Thực tế, cần phát triển hài hòa để khoa học và truyền thống bổ sung cho nhau. Nhất là sự phát triển & thành tựu khoa học công nghệ gene ADN, CNTT và khoa học lượng tử hiện đại đã trợ giúp đắc lực trong nghiên cứu nguồn gốc loài người, hành trình của nhân loại và thế giới tâm linh bí ẩn của con người. Khoa học lượng tử cho thấy, thế giới ảo, siêu hình hay siêu siêu hình luôn giữ vai trò điều khiển thế giới hữu hình, đúng như lời phát đoan của Thuyết Âm Dương - Âm là yếu tố sinh, Dương là yếu tố thành của vạn vật.

      Xác định quốc gia, dân tộc trong việc đánh giá lịch sử.
      Trước hết, cần chia sẻ với nhau về cách tiếp cận những đối tượng lịch sử văn hóa trong dòng chảy không thời gian. Chủ thể tiếp cận, nghiên cứu, khảo cứu, đánh giá... cần có những kiến thức cơ bản về những môn khoa học Tân Nhân Văn như Triết, Cổ Sinh, Khảo Cổ, Nhân Chủng, Cổ Ngữ, Cổ Sử, Tâm Lý miền sâu, Cơ cấu, Công Nghệ Gene, Lượng Tử... Hơn thế nữa là khả năng kéo dài trực giác chạm tầng siêu thức, tức dùng con mắt thứ ba hay giác quan thứ sáu để khám phá thế giới ngôn từ tế vi “ý tại ngôn ngoại”, bầu khí văn hóa “Vô ngôn” (Muthos), đến thế giới vô hình/siêu hình (Metaphysic) của huyền sử.

     Trong phần phát biểu bổ sung, TS. Nguyễn Văn Vịnh có lời xin lỗi đến các vị giáo sư, tiến sĩ, các học giả, rằng ngành KHXHNV VN từ 1945 đến nay chịu sự ảnh hưởng nặng nề vào phương pháp luận duy vật Mác-Lê cứng nhắc, phi thực tiễn, duy đối đầu chứ không đối thoại. Cho nên bị lâm vào tư duy đóng khung, bế tắc trước thế giới siêu hình, rất khó từ bỏ. Trong khi thế giới muôn hình vạn trạng đang vận động, biến đổi từng ngày. TS. Vịnh cũng nhấn mạnh bản chất của Nhà Tần (221 TCN-206 TCN), từng là tộc thiểu số Khuyển Nhung thời Nhà Chu, từ nông nghiệp biến tướng sang du mục. Với tính cách Bá Đạo tham tàn đã nổi lên dùng vũ lực ép buộc và sáp nhập sáu nước xung quanh để thành đại vương Tần.

       Đa số những ý kiến trái chiều thường mắc lỗi về vị trí, thời gian và phương pháp luận của chủ thể nhận định, đánh giá sự biến lịch sử. Những chủ thể ấy với tư cách Việt Nam bây giờ và trên vị trí lãnh thổ hình chữ S nhỏ bé hiện nay, đứt mạch với truyền thống ngàn đời, sẽ làm vị thế Việt Nam vô cùng nhỏ bé, yếu kém đến nhu nhược trước “Giấc mộng Trung Hoa” đầy âm mưu đang gặm nhấm và sáp nhập Việt Nam thành một tỉnh lỵ của Trung Quốc. Về văn hóa, ta mang theo mình mặc cảm là kẻ mượn chữ viết nhờ, sinh sau đẻ muộn lại còn đòi ly khai khỏi Đại Quốc. Nỗi nhục ngàn năm này Việt Nam vẫn chưa rửa được, bởi cái tư duy tiểu nhược, tự ti với chỉ có bốn ngàn năm lịch sử và ranh giới từ Lạng Sơn đến Cà Mau.
       Chừng nào với người Việt nào, còn vương vấn mặc cảm và sự yếu hèn thì chỉ chuốc lấy thất bại ngay trên bàn đàm phán với Bắc Phương và với cả những quốc gia đàng hoàng và thiện chí khác.
       GS.TS Trương Sỹ Hùng chia sẻ ý tưởng và mục đích của Ban biên tập cuốn sách là đưa ra những chứng cứ bằng văn bản, di vật, hình ảnh từ những tư liệu quý hiếm một cách khách quan, trung thực và không kết luận hay khẳng định để công chúng rộng đường bàn luận.
       Một tình cảm bày tỏ sự cung kính trước anh linh Triệu Vũ Đế của người con Đồng Xâm, Thái Bình, ông Nguyễn Gia Thắng. Trong lời phát biểu của mình, ông cho rằng Dân Tộc và Đất Nước này rất cần và trân trọng những người con đức độ, tài ba và dũng cảm hiến dâng sự nghiệp và bản thân, bất kể họ là ai. Và Triệu Vũ Đế là một tấm gương làm rạng rỡ Đất Việt, luôn sống mãi trong lòng Đại tộc họ Triệu và Bà con Đồng Xâm.

       Nhà nghiên cứu Nguyễn Khắc Mai kết thúc bằng một cảm nhận linh thông tin, rằng phảng phất đây đó linh hồn Triệu Vũ Đế đang lan tỏa một năng lượng kỳ diệu, đồng điệu với chúng ta trong thời khắc đáng ghi nhớ này.

LAV, 12.10.2017
      


       

Thứ Bảy, 9 tháng 7, 2016

GIÁ TRỊ VĂN HÓA VIỆT

GIÁ TRỊ VĂN HÓA VIỆT




TRIẾT LÝ NHÂN BẢN TÂM LINH
CỦA VĂN HÓA VIỆT & CHÚNG TA

A.      Vũ Trụ Quan
-        Vô Cực > Thái Cực > Lưỡng Nghi > Tứ Tượng > Bát Quái > Vô Cùng
-        Nhất Âm Nhất Dương Chi Vị Đạo
-        Đại Đạo Âm Dương Hòa
-        Vũ Trụ Vạn Vật Nhất Thể >> Ngũ Hành Cơ
-        Tam Tài: Thiên, Địa, Nhân

B.      Lý và Huyền Số
-        Dịch Lý là Thiên Lý/ Dịch: Nghịch Lý Chi Số
-        Bộ Huyền số Vài, Ba, Năm >> Nhất, Vài, Ba, Năm, Cửu
-        Tham Thiên Lưỡng Địa (nhi ỷ số)
-        Vạn Giáo Nhất Lý
-        Thần Vô Phương

C.      Nhân Sinh Quan
-        Vũ Trụ Chi Tâm
-        Nhân Chủ, Thái Hòa, Tâm Linh
-        Trông Trời Minh Thời  >> Chín Cái Trông
-        Biết Đủ Không Tham
-        Không sợ thiếu chỉ sợ không công bằng
-        Tình Lý Tương Tham << Âm Dương Tương Thôi
-        Lòng Nhân Ái  cứu cả Thế Giới
-        Tự Do, Dân Chủ, BÌNH SẢN
-        Trí Tuệ, Bản Lĩnh, DẤN THÂN.

     Trên đây là thứ tự các giá trị phổ quát của Văn Hóa Việt từ tầm vĩ mô Vũ Trụ Quan tới vi mô Nhân Sinh Quan thông qua các Phép/Nguyên Lý/Quy Luật của Dịch Lý và Lý Số/ Huyền Số, tạo nên bức tranh sinh động của Văn Hóa Việt, vận động và phát triển trong thế Quân Bình Động của vạn vật trong Vũ Trụ mênh mông.  

A.Vũ Trụ Quan

1.     Vô Cực > Thái Cực > Lưỡng Nghi > Tứ Tượng > Bát Quái > Vô Cùng
     Lời Phát đoan của Dịch: “Thái cực sinh Lưỡng Nghi (Âm Dương ), Lưỡng Nghi sinh Tứ Tượng ( Thái Âm, Thái Dương, Thiếu Âm Thiếu Dương ), Tứ Tượng sinh Bát quái, ( Kiền , Khảm, Cấn, Chấn, Tốn, Ly, Khôn, Đoài ), nhi Biến hoá vô cùng”.
2.     Cặp đối cực - nguyên lý Nhất Âm Nhất Dương Chi Vị Đạo.
   Âm Dương được dùng làm biểu tượng tổng quát cho các cặp đối cực trong Vũ trụ. Khi Âm Dương “tương thôi“, nghĩa là xô đẩy níu kéo nhau, không bên nào thắng hẳn… giúp luôn đạt tới trạng thái quân bình động, được gọi là “Đại Đạo Âm Dương hoà”. 
     Khi các cặp đối cực Giao thoa hay Giao chỉ, Giao hợp  để đạt trạng thái Quân bình động thì ta có nét Lưỡng nhất hay Song trùng lưỡng hợp.  Khi các cặp đối cực đạt thế Quân bình động thì có tính chất Tiến hoá và Trường tồn nghĩa là Thái Hòa.
     Theo Nho thì Quy tư và Suy tư là Nghịch lý, hay là cặp đối cực (opposite term), nếu cặp đối cực có được sự cách biệt thích hợp (3 / 2: Tham Thiên lưỡng Địa nhi ỷ số) thì trở nên một trong muôn vàn nét Lưỡng nhất, nét Lưỡng nhất ( dual unit )  là “Mạch lạc nội tại, là “Nét Nhất quán“ xuyên suốt nền Văn Hóa Việt.
     Đây là lối Sinh hoạt giúp con Người lập được mối liên hệ Hoà với Trời Đất, tức là mối liên hệ hàng Dọc, (Cao minh phối Thiên) nhờ vốn liếng quý giá này mà con Người có thể sống Hoà với nhau, (Bác hậu phối Địa)  đây là mối  liên hệ Hàng Ngang. Khi hai mối liên hệ Dọc Ngang hài hòa thì Vũ Trụ Hòa. (Cosmic rhythm : Tiết nhịp Hòa của Vũ trụ)
     Tổ tiên chúng ta dùng Biểu tượng Bình dân  (Chất gia) và câu văn Bác học  (Văn gia) để giúp người nào cũng có cách dễ tiếp thu Nguồn gốc của Văn Hoá :
- Biểu tượng “ Mẹ Tiên Âu Cơ: Non Nhân“ được dùng để  thay  cho câu  “Cao minh phối Thiên” của Văn gia. Mẹ Âu Cơ được ví như chim Tiên phải sống sao cho bớt Lượng thêm Phẩm cho nhẹ đi, mới bay được Lên Non cao  vắng vẻ yên tĩnh mà un đúc Lòng Nhân, Nhân là Tình Yêu bao la  (hay Lòng rộng) u linh man mác.
- Biểu tượng “Cha Rồng Lạc Long: Nước Trí“ thì được Văn gia gọi  là “Bác hậu phối Địa“. Cha Lạc Long được ví như Rồng, phải tung lên Không trung làm mưa làm gió và lặn sâu Xuống Biển biến động  của thế giới Hiên tượng để phát triển Lý Trí cho được Chu tri. (Trí sâu). Lý thì rõ ràng, khúc chiết.
- Biểu tượng “Con Hùng Vương: Hùng Dũng” là kết tinh của Mẹ Nhân, Cha Trí, nên được Hùng Dũng. Dũng (Nghĩa khí chi dũng) tức là Mạnh phần Hồn, Hùng là sức mạnh Thể Xác (Huyết khí chi dũng), có thế mới nên con Người Nhân chủ, có khả năng Tự Chủ, Tự Lực, Tự Cường để làm Chủ Vận hệ mình, Gia đình mình và Đất Nước mình.
     Vì vậy muốn là con cháu của Vua Hùng thì cũng phải bỏ “Tham, Sân, Si“ để có Lòng  rộng hay Nhân đồng thời phải lăn lộn vào Đời học hỏi không ngừng để có sự hiểu biết viên mãn, gọi là Trí sâu hay Nghĩa, không có Lòng rộng và Trí sâu thì mất Bản tính con Người, trở nên Vô thần, chỉ làm tôi đòi cho Ma Quỷ. Tiền Nhân cũng nhắn nhủ: “Nhân giả kỳ thiên địa chi đức quỷ thần chi hội”, tức Người là nơi hội tụ Đức Trời Đất, cũng là nơi hội tụ của Ma Quỷ.
3.     Tam Tài Thiên Địa Nhân
     Thiên Địa Nhân là cơ chế bình đẳng, hài hòa và đương nhiên ở thế Quân Bình             Động của vòng quay Vũ Trụ. Với tầm nhìn xuyên suốt hàng dọc Thiên Địa Nhân, Triết Lý An Vi cho rằng Trời là chủ, Đất là chủ thì Con Người cũng là chủ, bởi thế giới này tồn tại và trường tồn không thể thiếu một trong ba yếu tố trên. Âm/Đất/Mẹ tương thôi với Dương/Cha/Trời sinh ra Nhân/Người/Gái, Trai.
     Tổ Tiên ta đã gửi gắm êm đẹp Tam Tài trong hình tượng Mẹ/Non/Nhân, Cha/Nước/Trí sinh Con Hùng Dũng, Đảm Đang (Trai Tài, Gái Đảm).
     Nối tiếp cha ông, Cư sĩ Trần Cao Vân gửi gắm trọn vẹn trong bài thơ thất ngôn bát cú “Vịnh Tam Tài”, thể hiện Nhân Chủ Tính của Triết Lý Việt:
“Trời Đất sinh Ta có ý không
Chưa sinh Trời Đất có Ta trong
Ta cùng Trời Đất ba ngôi sánh
Trời Đất in Ta một chữ Đồng
Đất nứt  Ta ra Trời chuyển động
Ta thay Trời mở Đất mênh mông
Trời che chở Đất Ta thong thả
Trời Đất Ta đây đủ hóa công”.
     Và còn vô số những biểu tượng Triết Lý Nhân Bản trong đời sống Văn Hóa Việt từ cổ tới kim.  
4.     Vũ Trụ Vạn Vật Nhất Thể >> Ngũ Hành Cơ
     Vũ Trụ Vạn Vật Nhất Thể tạo nên cơ cấu Ngũ Hành.
                           Hỏa/Nam
                                   
Mộc/Đông ← Thổ/Trung Tâm → Kim/Tây
                                   ↓
                           Thủy/Bắc
Hồng Phạm có nhấn mạnh hành Thổ bằng cách thay chữ “Viết“ bằng chữ “Viên“;
Thủy viết nhuận hạ: Tính chất của nước là nhuần xuống
Hỏa viết viêm thượng: Tính chất của Lửa là bốc cháy lên
Thổ viết giá sắc: Thổ ở trong giá sắc ( Gieo gặt )
     Thổ không có việc thẳng mà chỉ ở trong hai việc của Người ( gieo gặt ) như thế là Thổ không có làm cũng y như là Thổ không có mùa riêng. Có Xuân, Hạ, Thu, Đông cho 4 Hành kia mà không có mùa thứ 5 cho Thổ, cũng như Thổ không có Phương Hướng thứ 5. Do đó mà có một số học giả cho Thổ là phụ thuộc vì không có Việc, không có Mùa, không có Phương ( Xem Legge S.29 + 230 ), nhưng với Triết Đông đó là chỗ đặc biệt của Hành Thổ. Chính vì Thổ không có phương nên mới Thần diệu. Vì Thần vô phương nghĩa là vượt Không Thời gian nên mới được tôn lên bậc Hậu Thổ, đại diện cho Hoàng Thiên ở chung một cung: Đó là danh dự không hề bao giờ dành cho các Hành kia. Chính vì Thổ là Hành vô địa, không Phương riêng, không Mùa riêng, nên Thổ mới có thể che chở mọi Hành và vượt lên mọi Hành để ở vào một bình diện khác hẳn tức là siêu việt, vô hình :           “ Hành vô hành “.

B.   Lý và Huyền Số
     Lý và Huyền Số là công cụ, phương tiện để luận và giải về con người, sự vật, hiện tượng của đời sống.
1   1. Về Lý 
      Khó mà kể hết, bởi có bao nhiêu sự vật hiện tượng thì có bấy nhiêu cái lý để lý giải chúng. Có thể bắt đầu từ Kinh Dịch, Thái Ất Thần Kinh/ Độn Giáp, Tử Vi, Tử Bình, Kỳ Môn Độn Giáp, Bát Tự, Phong Thủy, Tướng Số, Độn Toán, Bốc Dịch, Tướng Pháp, Cảm xạ - Tâm Linh đến Thông Thiên v.v.
     Điển hình căn bản nhất vẫn là Kinh Dịch, người Việt cổ gọi là Kinh Diệc, rồi Kinh Việt, sau có Kinh Dịch họ Hùng.
     Kinh Dịch có thể nói là một trong những Kinh Vô Tự còn gọi là Sách Ước Trời ban cho những cư dân đầu tiên sống trên vùng đồng bằng những con sông lớn như sông Cái (S. Hồng), đến Nam Dương Tử và lên mãi tới lưu vực sông Hoàng Hà của Đại chủng Viêm Việt, còn gọi là Viêm Chủng hay Nhật Chủng, gồm những tộc người Việt cổ đầu tiên như Tam Miêu, Cửu Lê, Tứ Di.
     5 giai đoạn của  Kinh Dịch:
Giai đoạn I . Dịch thiên nhiên hay Ðạo Dịch của Trời Ðất. 
     Tức hồn Dịch gặp được trong các Huyền thoại đầy chất Lưỡng Hợp như truyện Ông Cồ Bà Cộc, Núi Sông, Nước Lửa, Tiên Rồng . . .
Giai đoạn II. Dịch của Phục Hy
     Thành bởi nét Đứt ( - - ) và nét Liền (― ) ghép thành 8 quẻ đơn, mỗi quẻ có 3 nét. Ðó là bộ số Vài, Ba, Năm .
Giai đoạn III . Dịch của Ông Ðại Vũ đúc Cửu đỉnh
     Tức là thêm vào vòng Trong năm số Sinh bốn số Thành nữa là chín, cũng gọi là Cửu Lạc ( số Cửu/Chín của dân Lạc ) .
Giai đoạn IV.  Dịch của Văn Vương
     Bắt đầu có Văn tự, đó là những lời giải nghĩa 64 quẻ gọi là Hào từ hay Thoán/Soán từ.
Giai đoạn V.  Dịch của Khổng Tử có thêm Thập Dực.
     Nổi nhất trong đó là Hệ từ đại truyện có giá trị triết lý siêu hình.  Xưa nay người ta chỉ biết có giai đoạn IV và hầu hết nó đã trở thành sách bói toán và ma thuật. Giai đoạn V được chú ý chút ít. Chí như 3 giai đoạn trước thì hầu như không có ai nói gì tới và đấy là chỗ cắt nghĩa sự sa đọa của Nho là vì Ðạo là cái gì linh thiêng siêu việt không thể dùng ngôn từ hữu hạn mà nói được, “nói được thì không phải Ðạo thường hằng nữa ”, mà chỉ là Ðạo phù phiếm thuộc vòng ngoài.
     Vì thế “Tri giả bất ngôn” người biết Ðạo không nói mà chỉ dùng một hai dấu hiệu, vài ba con số để chỉ thị rồi yên lặng. Ðó là lý do tại sao các đạo lý Phương Ðông quý chữ Trống rỗng, Hư tâm, Vô thể. Vì thế Kinh Dịch khởi đầu chỉ có số vài và ba, đến sau mới thêm lời vào. Vậy mà các thế hệ sau lại chú ý nhiều về lời, thành ra chỉ chuyên ngọn mà bỏ gốc. Nay muốn tìm lại Ðạo Uyên Nguyên thì phải học về bộ huyền số trong Kinh Dịch.
2    2. Về Số
            Bộ Huyền Số Vài, Ba, Năm, Chín
     Trong hệ thống  thập phân thì những con số 2, 3, 5, 9 là quan trọng, những số đó là số nguyên tố, tức là số học trọn vẹn không thể chia cắt. Trong khi Tổ Tiên Việt đã dùng bộ Huyền số Vài, Ba, Năm, Chín vì nó mang theo trong mình ý nghĩa nền tảng của nền Văn Hóa, biểu tượng cho Thiên Lý hay Dịch Lý.
     Vì chưa  có Văn tự nên Tổ Tiên Đại Chủng Việt đã cất dấu bộ số Huyền niệm trong nhiều lãnh vực để khỏi bị mai một, nhất là chống lại âm mưu tiêu diệt Văn Hóa của Tàu .
-         Vài nói Hai, biểu hiện qua Ngọc Long Toại là cặp Trống Mái, được chôn dấu
trong đất mà tia sáng chiếu thẳng lên Trời, các nhà Vọng khí đều biết hòn Ngọc Long Toại còn ở phương Nam. Đây là lời nhắn gửi  kín cho cháu con cháu về nguồn gốc Văn Hóa Dân tộc, chỉ có con cháu mới hiểu, còn người ngoài khó nhận ra. ( Xin xem truyện Việt Tỉnh )
-         Vài Ba, nét Lưỡng Nhất
     Nữ Oa cầm cái Quy (┼: vẽ Vòng Tròn, compa), Phục Hy cầm cái Củ  (┘: vẽ hình vuông, êke), khi chết Nữ Oa biến thành chim Tinh vệ thuộc nòi Tiên, Còn Phục Hy biến thành Thanh tinh tức Rồng Xanh, hai bên giao chỉ nơi đuôi, hay giao thoa thành nét Lưỡng Nhất. Đây là hình ảnh của hình vuông ngoại tiếp, mà Cha ông ta đã ví von là “Mẹ Tròn con Vuông”.
   Tuy hai nhân vật Văn Hóa này có trong Cổ sử  Tàu, là do họ đem vào sử của họ, nhưng hai nhân vật này lại thuộc nòi Tiên Rồng của Chủng Việt. Không những Nữ Oa, Phục Hy, mà cả Thần Nông, Hữu Sào, Nghiêu, Thuấn cũng như Bàn Cổ  đều là những nhân vật Văn Hóa thuộc Nông Nghiệp, do các nhà sử Tàu mới đem vào sử của họ, nhân vật càng xưa lại được đem vào sau hết. Nhân vật xưa nhất là Bàn cổ được Từ Chỉnh đem vào thời nhà Hán.
     Hòn sỏi ở Ngưỡng Thiều, hai hòn để nhẵn, ba hòn để thô. Cây Phủ Việt: bên trên là hai Giao Long (Rồng) “cài hoa kết hoa”  nghĩa là giao thoa nhau,  bên dưới có hình ba người  đầu mang lông Chim (hoá trang thành Tiên), hay ba con nai chà  (nai  Lộc, Lộc Tục). Đây cũng là nơi tộc Việt cất dấu bộ số huyền niệm, hai-ba, vì là Cơ cấu của nền Văn Hóa Đông Nam (Mộc số ba, Hỏa số hai).  Cái Phủ Việt mang Danh tính là Việt  và Thể tính là hai-ba. Cái Tước hai quai, ba chân.
-         Ba là bộ ba cái Chạc (đồ tùy táng giống cái ly uống nước ), bao giờ cũng tìm được bộ ba. 
   Con số ba quan trọng đến độ định tính sự vật, nên biến thể nhiều vật như cóc và chim tìm được ở Ðông Sơn có miệng nhọn, tức ba góc, gà ba chân, cóc cũng ba chân. Để lên chức cậu ông trời ( phải rụng một chân ).
-          Năm là Ngũ Hành, Ngũ Sắc, Ngũ Luân, Ngũ Thường.
     Ðó là bộ số chỉ trỏ sự Quân bình Vũ Trụ : Trời ba , Ðất hai. Vẽ ra là hình Thập tự nhai ┼ gồm nét Ngang là hai Ðất, cộng với nét Dọc là ba Trời thành ngũ hành là số năm. Hoặc cùng vẽ là hình tức là Tròn trên Vuông hay Tròn bao lấy Vuông.  Xã hội theo quy chế Bình sản không có chế độ nô lệ. Hỏi ai là chủ bộ số hai – ba này trước thì đó là Việt.    
-         Cửu/Chín, là Cửu Cung, Cửu Đỉnh, Cửu Trùng… là số thành từ các số sinh bốn và năm hay ba tầng của Ba là Chín/Cửu. Cửu cũng là số Trời.

C.   Nhân Sinh Quan
1.  Nhân Chủ, Thái Hòa, Tâm Linh           
     Trên thế giới chỉ có Việt Nam có nền Văn Hóa sóng đôi thống nhất của Chất gia và Văn gia. Chất gia có kho tàng Huyền Thoại, Ca dao, Tục ngữ, Lời du…  Cả hai đều đồng quy vào  “Gốc Nhân Nghĩa“. Văn gia có Kinh Điển với Tứ Thư, Lục Kinh, (có phần khác với Hán Nho của Tàu),
     Vì sống theo Nghề Nông, Tổ Tiên chúng ta luôn quan chiêm Thời tiết / Trông Trời mà Minh Thời để việc gieo trồng được kết quả. Tổ tiên chúng ta chưa tiến tới nếp sống “đi trên đại lộ huy hoàng“ như  các Dân tộc Văn minh, mà chỉ “đi trên những con đường truyền thống“, bắt đầu làm những việc từ Gần tới Xa, từ Nhỏ tới To… mà từ từ vươn lên từ Lượng tới Phẩm giúp cho cuộc sống siêu việt (Dân tộc chọn tên Nước/Nác/Lác/Lạc là Tộc Việt ở phương Nam còn gọi Lạc Việt) để làm người Nhân Chủ, biết sống tự Chủ, tự Lực, tự Cường hầu làm Chủ Vận hệ mình, Gia đình mình và Đất Nước mình.  Nhờ thế, mà con dân trong nước có đủ Tư cách và Khả năng biết Yêu thương Đùm bọc lấy nhau, Đoàn kết với nhau để Dân tộc có đủ Nội lực mà Dựng Nước và Giữ Nước. Tạo nên những giá trị nhân bản mẫu mực và vững bền. Đó là:
Nhân Chủ, Thái Hòa, Tâm Linh
     Nhân chủ như đã phân tích trong cơ cấu Tam Tài, Nhân Chủ tức người là chủ nhân của chính mình, gia đình mình, Đất Nước mình và chủ nhân của Thế Giới.
     Ngày nay, nhân chủ tính hay con người nhân chủ bị triệt tiêu bởi cơ chế vô hình mà chính chúng ta không vượt qua được. Câu hỏi đặt ra, Việt Nam có trí tuệ không? Tại sao không. Có bản lĩnh không? Tại sao không. Nhưng cái quan trọng nhất là quyết định Dấn Thân. Chúng ta chưa đủ can đảm để quyết định dấn thân, nên chúng ta cùng nhau, bám nhau để chìm xuống đáy.
     Trí khôn thì có đủ, song dũng cảm chưa tới thì phải nhờ Trời vậy thôi (!?)
     Thái Hòa là không gian để vạn vật hòa với nhau, tương tác mà phát triển trường tồn.
     Tâm Linh là là hệ quả của những việc làm từ nhân tâm, an nhiên tự tại, đã dâng hiến cho đời, trở thành cao quý, đáng trân trọng, vượt không thời gian và trở thành giá trị linh thiêng, là tấm gương cho muôn đời. Tâm Linh cũng là Nguồn Sống và Nguồn Sáng của cuộc sống chúng ta.
     Từ những giá trị nhân bản nền tảng, sản sinh ra hàng loạt những giá trị tiếp nối với những ý nghĩa thực tiễn đã đi sâu vào tiềm thức con người trong đời sống nông nghiệp từ buổi sơ khai.
     Biệt tài của người Phương Đông là “Trông Trời Minh Thời”. Thời đây là thời gian, thời thế, thời vận và thời tiết mang tính tổng hòa của triết lý nhân sinh hoàn hảo, áp dụng vào thực tế đời sống và đã đạt ngưỡng huyền đồng. Đơn cử một cách minh thời trong chín cái Trông của người Việt: “Trông trời trông đất trông mây/ Trông mưa trông gió, trông ngày trông đêm/ Trông cho chân cứng đá mềm/ Trời yên biển lặng mới yên tâm lòng”.
    Chín cái Trông thể hiện một Vũ Trụ Quan ứng dụng vào đời sống nông nghiệp lúa nước, để rồi từ đó cái kinh nghiệm sống này truyền cho muôn thế hệ, một khi con người vẫn có nhu cầu tới lúa. Đây cũng là nội dung giáo dục tính kiên nhẫn, cần cù và kính trọng sức lao động đáng quý của nhà nông – để có một hạt lúa phải mất đến Chín Cái Trông như vậy.
     Khi thấu hiểu quy luật xoay vần của Tạo Hóa, người Việt biết kiềm chế những yếu tố thái quá của nếp nghĩ ích kỷ, tiểu tiết, manh mún dẫn đến tranh giành, xung đột, mất đoàn kết trong triết lý “Không sợ thiếu, chỉ sợ không công bằng” và cũng an ủi nhau một cách tế vi “Không ai giàu ba họ, không ai khó ba đời”. Đây là một nguyên tắc kiềm chế đối trọng để giữ công bằng xã hội, mang chuẩn mực nhân văn cao cả, tránh được cái nạn  “Kẻ ăn không hết, người lần chẳng ra” (hệt như bức tranh đang diễn).
     Một cái nhìn Minh Triết đã nâng cao Giá Trị Nhân Bản Tâm Linh Việt vượt không gian và thời gian, trở thành Giá Trị Phổ Quát Nhân Loại, đó là  “Biết đủ không tham”. Lẽ đương nhiên khi loài người biết đủ không tham thì thế giới sẽ an bình dài lâu.
     Xin thưa, trước cái lòng tham vô đáy của con người, vốn dĩ bản năng. Từ xa xưa, trong các phép ứng xử, người Việt đã biết toại lòng nhau bằng cách ăn ở phải người phải ta, rồi tình lý tương tham, để lòng nhân ái cứu cả thiên hạ. Người Việt cũng bảo nhau từ tốn, nhã nhặn và yên tâm trong triết lý “Cho là Nhận” một cách an nhiên tự tại. Đức tính này đã trở thành kinh điển trong lời dạy của Bụt để tránh tham, sân, si.
     Tất cả những giá trị Vũ Trụ Quan và Nhân Sinh Quan được cụ thể hóa trong chính sách cai trị Đất Nước bằng cơ chế Bình Sản.
     Đây là vấn đề cũ rất cũ, cũ nhất trong những nền văn hoá xưa nhất của thế giới. Nhưng “Mới là cái Cũ chưa biết”, nên nó rất hợp với thời đại khoa học tân tiến ngày nay, vì gồm cả Khoa học Tự nhiên, (nhất là hệ thống Nhị phân: Binary system), Phép Lập trình và Khoa học Tân Nhân Văn như Cơ cấu luận, Tâm lý miền sâu, Khảo cổ học, Di truyền học. ..  
2Lưỡng Nhất Tính hay Nét Gấp Đôi của Nền Văn Hóa  
     Triết gia Kim Định đã  khám phá  ra vai trò quan trọng của “Nét Lưỡng Nhất” của Dịch lý trong Nho, nét này được tìm thấy trong Cơ cấu của Văn Hóa Đông - Tây, giúp chúng ta tiến tới một cuộc Tổng hợp Đông - Tây - Kim - Cổ. Nét Lưỡng nhất (dual unit) là nền tảng của nền Văn Hóa Thái Hòa Việt Tộc, giúp con Người sống Hòa với nhau.  
Nét Lưỡng nhất cũng là nền tảng của triết lý An Vi là triết lý Hoà giải của Triết gia Kim Định.
     Nét Lưỡng Nhất là các cặp Đối cực: Nhỏ / To, Gần / Xa, Đơn Giản / Phức tạp, Tầm thường / Phi Thường, Không gian / Thời gian, Vũ / Trụ, Tán / Tụ  Tinh vi / Vĩ đại. . . đều  được kết hợp hài hòa làm thành nét Lưỡng Nhất, nên trong Nhất có Đa và Trong Đa có Nhất.
     Nét Lưỡng nhất rất quan trọng, vì nếu không có các cặp đối cực như Gái / Trai, Cái / Đực, Mái / Trống, Nhụy Cái / Nhụy Đực kết hợp hài hòa với nhau mà “Sinh Sinh Hóa Hóa“ thì Quả Đất này chỉ là một bãi Sa mạc mênh mông.
    Trong lãnh vực Văn Hóa Dân tộc, ngoài triết gia Kim Định, ít nhà nghiên cứu Văn Hóa đi tới tận nền Cơ cấu. Việt Nho có :
1. Cơ cấu là bộ Huyền số: Vài - Ba, Năm
2. Nội dung : Thái Hoà, Nhân chủ, Tâm linh ( tức Vũ trụ quan và Nhân sinh quan )
3. Đạt quan :  Phong thái An Vi siêu thoát.

CHÚNG TA

LIÊN HỆ TỚI NGÀY NAY. Với chiều dài Lịch Sử Văn Hóa Vạn Năm, tự hào Văn Hiến Chi Bang, Ngàn Năm Văn Vật  và Văn Minh Trống Đồng, mỗi người cần làm gì cho Đất Nước đang lúc lâm nguy.
Nho đã mất tinh thần, Nho đã hủ lậu càng thêm hủ lậu, Dân Việt Nam đã ngủ say lại càng ngủ mê hơn!   Triết gia Kim Định đã ví von : "Hồn mất trước, Nước mất sau". Hồn đây là Hồn Nhân Nghĩa của Dân Tộc cũng là Tình Nghĩa Đồng Bào. Nước đây là quyền làm Chủ của Giang Sơn Gấm Vóc, được xây dựng từ thuở Vua Hùng.  Nói tóm lại sự sa đọa về Văn Hóa làm cho con Người mất hết Tư cách và Khả năng, không thể hành xử Hòa với nhau, mà phá tan mọi sự!
     Ngày nay, muốn thể hiện Nhân quyền thì mỗi người phải có Tự do căn bản, biết nhận những dị biệt của nhau mà cùng nhau chung Lòng, chung Trí và Góp sức Cứu Dân và Dựng Nước theo Tinh Thần của Hiến Pháp.
     Việc nâng cao Dân Trí, chấn hưng Dân Khí là trọng trách của các vị Lãnh đạo Tinh thần, các vị Trí thức, các nhà làm Văn Hóa Giáo Dục cũng như các vị làm Truyền Thông, đây là thành phần đầu tàu của dân tộc. Ngày nay các trang mạng, các bloggers đóng một vai trò quan trọng, nhưng các bloggers phải đồng thuận vào một Hướng chung của Dân Tộc mới có tác dụng tích cực.
     Cỗ máy đầu tàu Dân Tộc này không chuyển động, thì các toa tàu cứ nằm ụ với nhau. Các nhà Truyền Thông, các trang mạng không những truyền tải thông tin (Information) để mở rộng Kiến thức quần chúng (Khả năng), mà còn giúp phổ biến Tinh Thần của Tôn giáo và nhất là Văn Hóa chung của Dân Tộc (Formation) để un đúc Lòng Nhân (Tư cách) cho mọi người dân.
     Loan truyền Tin tức về Tình yêu thương và Lý công chính là sứ mạng cao cả, giá trị này chung cho cả Dân Tộc, nên Vô tư không thiên vị.
     Một Dân tộc có con Dân Tâm rộng, Trí sâu thì mới Kết Đoàn được, Kết Đoàn trong cách biết chấp nhận những Dị biệt của nhau hợp với tinh thần Nhân Ái và Lý Công Chính để cùng nhau Cứu Dân và Dựng Nước.!


Lê An Vi (tổng hợp từ Việt Nho và Triết lý An Vi)

015004 LĂNG KÍNH LƯỢNG TỬ LUẬN LUẬT QUÂN BÌNH VÀ TRIẾT LÝ ÐẠI HÒA Thái Đông A

013001a NHẬP MÔN

013001a    NGƯỜI VIỆT, TIẾNG VIỆT, ĐẤT NƯỚC VIỆT Một con người chưa hiểu biết về gốc gác của mình chưa thể là con người có văn hóa. Cũng n...