Thứ Hai, 5 tháng 10, 2020

02005 TỨ BẤT TỬ



02005

 TỨ BẤT TỬ

TRIẾT LÝ NHÂN BẢN TÂM LINH CỦA VĂN HÓA VIỆT

 

       Tứ Bất Tử Việt Nam là hình tượng văn hóa nhân bản tâm linh của vũ trụ quần sinh trong lịch sử văn hóa Việt Nam và Thế giới.

       Tứ Bất Tử là biểu hiện lưỡng nhất tính gồm bản thể và hiện tượng. Bản thể là trung tâm, là hạt nhân, là yếu tố sinh, là tượng. Hiện tượng là vòng ngoài, là yếu tố thành, là hình. Cho nên, có thể nói Tứ Bất Tử Việt Nam đã đạt được hai chiều kích văn hóa bản thể và hiện tượng, đạo và đời.

        Bất tử vì nó là bản nguyên, là chân lý tối thượng, là đạo của Vũ Trụ mà nhân loại tôn kính và thờ phụng. Bất tử vì nó là hình ảnh chân thực của những con Dân,  con Trời mang sứ mệnh khai mở, tạo dựng và tỏa sáng càn khôn.

        Tứ Bất Tử thuộc vòng huyền sử như một chân lý, một bản nguyên của ký ức dân tộc mang tính cộng thông nhân loại. Cho nên nó đầy tính thiêng liêng, vi diệu được bảo tồn, lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác, để từ đó con cháu tri ân, tự hào và luôn hướng về cội nguồn Tổ Tiên.

        Tứ Bất Tử là cả Dân Tộc Việt Nam triệu người như một, kiến tạo, bảo vệ và phát triển cùng nhân loại.

        Trước khi đi vào chủ đề Tứ Bất Tử, chúng ta thử quay lại bối cảnh lịch sử văn hóa thời Tiền Sử, cái nôi của hiện tượng Tứ Bất Tử huyền vĩ này.

        Thoạt kỳ thủy thời sơ sử, do điều kiện khí hậu, thổ nhưỡng và thời gian đã xóa đi tất cả những vết tích người xưa từ 40.000 năm. Xin trích dẫn một nhận định của Nhà nghiên cứu Tiền sử người Việt như sau:

      “Những năm cuối thế kỷ XX, bùng nổ thông tin gây chấn động: “Người hiện đại Homo sapiens xuất hiện ở châu Phi 200.000 năm trước. Khoảng 70.000 năm trước, theo ven biển Ấn Độ Dương, người từ châu Phi di cư tới Việt Nam. Tại đây thời Đồ Đá xuất hiện hai đại chủng Australoid và Mongoloid. Họ hòa huyết với nhau sinh ra bốn chủng người Việt cổ Indonesian, Melanesian, Vedoid và Negritoid, cùng thuộc nhóm loại hình Australoid. Sang thời kim khí, người Mongoloid phương Nam xuất hiện và trở thành chủ thể dân cư. Người Australoid biến mất khỏi đất này không hiểu do di cư hay đồng hóa?” Nghỉ lại ở đây 20.000 năm để gia tăng nhân số, 50.000  năm trước, người từ Việt Nam lan tỏa ra các đảo Đông Nam Á và chiếm lĩnh Ấn Độ. 40.000 năm trước, do khí hậu phía Bắc được cải thiện, người từ Việt Nam đi lên khai phá Hoa lục. 30.000 năm trước, từ Siberia vượt qua eo Bering, chinh phục châu Mỹ…”  Giới khảo cổ học choáng váng. Tuy nhiên, khám phá từ ADN không thể nghi ngờ! Như vậy, thực tế cho thấy, con người đã có mặt tại Việt Nam từ 70.000 năm trước. Nhưng thổ nhưỡng và khí hậu khắc nghiệt đã xóa đi mọi dấu vết của họ, khiến cho 40.000 năm chìm vào đêm tối!” (Tiền sử người Việt. Hà Văn Thùy, NXB Hồng Đức 2020).

       Đây là câu chuyện dài đã được giải mã, trong khuôn khổ của chủ đề Tứ Bất Tử, chúng tôi chỉ giới thiệu bối cảnh lịch sử văn hóa hậu kỳ Cựu Thạch, Tân Thạch trở về sau, khi mà bắt đầu hình thành xã hội người Việt Cổ đầu tiên từ lưu vực sông Hoàng Hà đến Nam sông Dương Tử và trải rộng ra Thái Bình Dương.

        Khoa học Nhân chủng cho biết, chủ nhân của nền văn minh nông nghiệp lúa nước đầu tiên của nhân loại là chủng người Indonesian/ Việt Cổ/Lạc Việt/Lou Yue. Sau đó người Mông Cổ phương Bắc hòa huyết với người Việt Cổ bản địa, sinh ra giống con lai Hoa Hạ, trở thành chủng người Mông Cổ phương Nam.

        Nhân chủng học và Văn Hóa học cũng xác định đây là cuộc Cách mạng Tân Thạch Lần thứ nhất với những đặc trưng: Nông nghiệp trồng lúa & kê, Thuần dưỡng gia súc (chó, lợn, gà), Nuôi tằm tang, dệt vải và Nghề gốm.

        Những cộng đồng Thị tộc đầu tiên là Tam Hoàng, gồm Thiên Thần Phục Hy Thị, Địa Thần Nữ Oa Thị và Nhân Thần Thần Nông Thị.

        Tiếp đến là Ngũ Đế, gồm Hoàng Đế, Đế Chuyên Húc, Đế Khốc, Đế Nghiêu, Đế Thuấn.

        Tiếp nữa là thời Tam Đại Hạ, Thương/Ân, Chu.

        Từ thời Hoàng Đế Hiên Viên, do máu Du mục nổi trội, sinh ra tham tàn, cường bạo, bành trướng. Người Du mục Hoa Hạ đã lấn át và xua đuổi người Nông nghiệp Lạc Việt về phía Nam. Người Lạc Việt lập kinh đô ở vùng Hồ Động Đình Nam sông Dương tử, xây dựng Vương triều Xích Quỷ Văn Lang, sau Trung Quốc gọi là Lương Chử và tự xưng người Trung Hoa là hậu duệ của người Lou Yue/Lạc Việt. (Nhà Nước Xích Quỷ Văn Lang từ huyền thoại đến hiện thực. Hà Văn Thùy, NXB Hội Nhà Văn, 2017)

        Năm 2698 TCN, những bộ lạc du mục hung hãn trên bờ Bắc Hoàng Hà do họ Hiên Viên cầm đầu, đánh vào Trác Lộc, chiếm giang sơn của người Việt, lập nhà nước Hoàng Đế. Cuộc chiến khốc liệt và dai dẳng được ghi lại trong Kinh Thư: “Phạt Tam Miêu, đầy Tam Miêu tam phục, ngũ phục”. “Ngươi phải ghi nhớ, không được để Tam Miêu quấy rối Hoa Hạ!” (Lời vua Nghiêu dạy bề tôi). Đấy là ở thời Nghiêu Thuấn, “thời đại Hoàng Kim”. Từ sau thời Chu, hàng triệu người Tiên Ti, Hung nô vào chiếm đất, mặc sức chém giết… đẩy những đợt sóng người Việt chạy về Nam tìm đường sống. Đó là buổi giao thời, khi người Việt hiện đại Mongoloid phương Nam - lớp con cháu từ Núi Thái -Trong Nguồn trở về, thay máu đồng bào và đổi mới kỹ năng sống, đưa tộc Việt từ văn minh đồ đá chuyển sang văn minh kim khí của thời đại Phùng Nguyên - Đông Sơn rực rỡ.

        Hùng Vương Sự Tích Ngọc Phả Cổ Truyền có lời rằng:“Vua Kinh Dương Vương vâng ngọc chỉ phụng mệnh Trời về núi Nam Miêu Sơn lập đô ở phía Hoan Châu thuộc Nghệ An xứ”).Và sau cùng là thời kỳ các Vua Hùng kéo dân về Phong Châu, Phú Thọ ngày nay.

        Khoảng ba nghìn đến bảy nghìn năm cách nay là thời kỳ của Văn Minh Trống Đồng là cơ sở nền tảng cho những câu truyện huyền tích về Tứ Bất Tử trong lịch sử văn hóa tâm linh của người Việt. Các Ngài chính là Hồn Thiêng Sông Núi để độ trì cho Dân tộc trong lúc nguy biến suốt dòng Lịch Sử. Tinh thần của các Ngài đã được lưu truyền cho Dân tộc Việt Nam, cho Con Cháu muôn đời về sau. Đó là Bốn Vị:

1.     Tản Viên Sơn Thánh

2.     Phù Đổng Thiên Vương

3.     Chử Đồng Tử - Tiên Dung

4.     Chúa Mẫu Thượng Ngàn Liễu Hạnh

 

I. TẢN VIÊN SƠN THÁNH

 


        Tản Viên Sơn Thánh “hạo khí anh linh của trời đất”, một bản nguyên, một chân lý vĩnh hằng của Việt Tộc. Tản Viên Sơn Thánh là hình tượng của nhân duyên phù hợp với  luật nhân quả thiên địa nhân hợp nhất hay Đại Đạo âm dương hòa. Đó cũng là món quà mà Tạo Hóa ban tặng về nghị lực sống, trí tuệ và bản lĩnh của người Việt.

 

HUYỀN THOẠI SÁCH ƯỚC & GẬY THẦN

 

        “Sách Ước là sách huyền diệu có sức màu ban cho người có quyền ước gì được nấy. Tìm về nguồn gốc chúng, ta chỉ gặp thấy có nói đến sách Ước trong câu truyện Thần núi Tản Viên: “Thần xưa kia là một đứa con bị bỏ rơi giữa rừng được một người tiều phu gặp đem về nuôi, đặt tên là Kỳ Mạng. Sở dĩ Thần có tên này là vì trước khi gặp cha nuôi đứa bé mới lọt lòng đã được dê rừng cho bú, chim chóc ấp ủ. Kỳ Mạng chóng lớn khôn, theo nghề cha nuôi ngày ngày vác rìu vào rừng đốn củi. Một hôm Kỳ Mạng đốn một cây đại thụ. Cây to lớn quá, chặt từ sáng tới chiều mà vẫn chưa hạ nổi. Bỏ dở ra về, đến sáng hôm sau trở vào rừng, Kỳ Mạng hết sức ngạc nhiên thấy những vết chặt đã dính liền lại khắp thân cây. Kỳ Mạng lại xách rìu chặt nữa, suốt ngày hết sức không xong, đến ngày thứ hai trở lại cũng thấy cây vẫn nguyên vẹn như chưa hề đụng tới. Không nản chí, Kỳ Mạng lại ra công chặt nữa, quyết hạ cho kỳ được, rồi đến tối ở lại nấp gần cây rình xem sự thế. Vào khoảng nửa đêm, Kỳ Mạng thấy một bà lão hiện ra, tay cầm gậy chỉ vào cây, đi một vòng quanh cây, tự nhiên những vết chặt lại liền như cũ, Kỳ Mạng nhảy ra khỏi chỗ nấp, tức giận hỏi bà lão sao lại phá công việc làm ăn của mình. Bà lão nói: “Ta là Thần Thái Bạch, ta không muốn cho cây này bị chặt, vì đây là chỗ nghỉ của ta“.  Không chặt cây thì lấy gì mà nuôi cha? Thái Bạch đưa cho Kỳ mạng  cái gậy rồi biến mất. Được chiếc gậy Thần, đời sống của cha con Kỳ Mạng từ đấy có phần dễ chịu lắm, và chàng mang đi cứu giúp những người bệnh tật ốm đau. Một hôm Kỳ Mạng đi chơi gặp xác một con rắn nước bị trẻ chăn trâu đập chết vứt ở bờ sông, mới dùng gậy Thần chỉ cho con rắn sống lại. Vài ngày sau có một người lại tới tự xưng là Tiểu Long Hầu, đem nhiều châu báu tạ ơn Kỳ Mạng đã cứu sống. Thần Tiểu Long lại mời Kỳ Mạng xuống chơi dưới thủy phủ. Kỳ Mạng nhận lời theo Long Quân rẽ nước xuống biển ở lại ba hôm, Tiểu Long bày yến tiệc tiếp đãi nồng hậu và dẫn chàng đi thăm khắp thủy giới.

        Khi về Kỳ Mạng lại được Long Quân biếu một cuốn sách Ước, nhờ sách mà cầu gì được nấy. Kỳ Mạng sung sướng đem sách về trần.

Cuốn sách Ước có 3 trang trống trơn bằng da cá, ngoài bọc vỏ rùa, 3 trang là: Kim, Mộc, Hỏa. . ., thiếu trang Thủy mà Long Quân đã giữ lại. Kỳ Mạng mở sách thử linh nghiệm, đặt tay vào trang Hỏa và khấn khứa, ngay lập tức sấm sét, vân vũ nổi lên dày đặc, rung chuyển bầu trời. Kỳ Mạng mỉm cười đắc ý, đặt tay tiếp vào trang Mộc, ước ao thấy một rừng cây đi. Tức thì rừng cây hiện lên như một đạo quân. Kỳ Mạng gấp sách lại, thấy mình từ đấy uy quyền, sức mạnh không còn ai sánh kịp. Rồi chàng lang thang đó đây, giúp đời. Cuối cùng chán cảnh trần tục, Kỳ Mạng lên núi Tản Viên ngụ luôn tại đấy. Với cuốn sách Ước, chàng dựng lên những khu nhà cửa, dân cư sầm uất giữa chốn rừng hoang vu. Từ đó thiên hạ đồn rằng núi Tản Viên do một vị thần có pháp thuật thần thông biến hóa cai quản“.  (Văn Học, Hoàng Trọng Miên )

Giải nghĩa

        Câu truyện huyền sử truyền lại cho hậu thế một thông điệp mang tính nền tảng của Kinh Dịch, còn gọi là Thiên Thư mà dịch lý cũng là thiên lý với cuốn sách Vô ngôn và bộ Huyền số của Lạc Thư, thông qua hai bảo vật Sách Ước & Gậy Thần. 

        Sách Ước vô ngôn, vô tự nguyên thủy là những ký hiệu vạch đứt  (- -) âm, vạch liền (–) dương, được xắp xếp theo biến dịch càn khôn thành các hào, quẻ. Sau đó mỗi quẻ được giả nghĩa bằng hệ từ hay soán/thoán từ của Chu Văn Vương, Khổng Tử, Chu Hy, Trình Di, Ngô Tất Tố… mà thành Kinh Dịch thành văn như ngày nay.

       Gậy Thần chín đốt, hai đầu sinh tử/âm dương chính là bộ Huyền số của Việt tộc trong Lạc Thư, đặt theo hai trục tung hoành hay thập tự nhai, lấy tâm điểm là số 5:

1

2

3

4

                                                       1  2  3  4  5  6  7  8  9

6

7

8

9

       Người biết quyền biến dùng Gậy Thần, nắm vào điểm giữa gậy số 5 rồi xoay thì sinh tử biến hóa, mọi điều mong ước thành sự thực, đầu sinh làm điều thiện, phục sinh, chí khí, đầu tử để trừng trị tà ác, giải oan, tiêu diệt kẻ thù.

        Sách Việt sử lược bảo Hùng vương biết dùng ảo thuật thì có nghĩa là biết ứng dụng  nền Minh triết Lạc Thư: đem đạo ( Tròn ) Tản vào đời sống ( Vuông ) Viên đó là Tản Viên, tức Tròn Vuông xoắn xuýt, Trời Đất giao hòa.

       Gậy Thần đi với Mẹ với nông nghiệp, nên gây ra được nhiều ơn ích thiết thực, còn Sách Ước là do Bố, Lạc Long quân tuy cũng có thần thông nhưng mang nhiều tính vu nghiễn như khi Kỳ Mạng niệm chú cho trời mưa, cho rừng cây xuất hiện…, đó là kiểu nói bóng về khả năng biến hoá của Kinh Dịch, nhưng về sau vì bị hiểu theo lối vu nghiễn, nên không ơn ích cho đời sống như Gậy Thần. Gậy Thần biểu thị Minh Triết nông nghiệp, nên mỗi lần chặt cây là biểu thị chối bỏ nền Minh Triết đó.

1. Ý nghĩa Gậy Thần

        Vậy Gậy Thần không chi khác hơn là nền Minh Triết nông nghiệp.  Khi người nào đạt độ Minh Triết đó thì không cần đến tôn giáo vu nghiễn nữa, còn khi chỉ có triết học duy niệm như trong văn minh Cha thì không đủ thỏa mãn Tâm linh nên cần đến vu nghiễn, như phần nào đã thấy xẩy ra trong Hán Nho có pha nhiều chất tai dị. Đã là Minh Triết thì nó biểu lộ ra trong nét Nhất quán tức như sợi dây xỏ xuyên qua hai bờ Âm Dương, mà không Duy bên nào. Nói bóng là gậy Thần. Gậy là để xỏ qua, Thần là khắp hết, tức đem đạo (tròn) tản ra mọi việc (vuông). Vậy trong nền văn hoá Việt Nam ta thấy cái gì cũng Lưỡng nhất tính kể từ vật tổ trở đi là Tiên Rồng cho đến thể chế làng nước, mẹ cha, cách tính tuổi, cách đặt tên… và vì thế tiếng nước ta rất nhiều danh từ đi đôi: đất trời, chiếu chăn, nước non, ăn uống, mênh mông, kỳ diệu. Tưởng không ngôn ngữ nào trên thế giới diễn đạt nét gấp đôi rõ như vậy, tiếng ngoài thăng, tiếng trong giáng. Lối nói lại đặt chữ Kỳ tức lấy mình làm trung tâm: Ta nói xe chạy ngoài đường là quy chiếu vào mình tức con đường ở ngoài mình.  Đó là hệ quả Tam Tài, lấy con người làm trung tâm “Trời che Đất chở ta thong thả“ và do đó hiện thực được sứ mạng của mình (Kỳ Mạng), tức là của con người đại ngã Tâm Linh mà các nền văn minh khác chưa đâu thực hiện nổi. ( xin  xem Nhân Chủ , Kim Định)


2.     Ý nghĩa Nhân sinh

        Thân phận cuộc đời Kỳ Mạng là hình tượng thời kỳ sơ khai của loài người. Sinh ra chưa rõ gốc gác, được nhặt về nuôi, mà lão tiều phu chính là bàn tay Tạo Hóa. Kỳ Mạng cầm rìu đốn củi là hoạt động sinh tồn trong giới tự nhiên. Cái rìu biểu hiện cho thời hái lượm săn bắt, khai hoang để mưu sinh của người Việt Cổ. Chữ Việt được ghi với biểu tượng hình cái qua (rừu đá) gọi là bộ chữ Qua , có gốc từ chữ Việt  trong Giáp cốt văn thời nhà Thương (xem “Phục hồi chữ Việt cổ” của Lê Văn Ẩn). Tự hào về sáng tạo này, tổ tiên ta lấy tên Việt làm biểu trưng của mình là người chủ của Cây Việt, còn gọi là Phủ Việt. Từ đó, tổ tiên ta được gọi là người Việt. Việt – người cầm rìu có thể xuất hiện trước 15.000 năm cách nay. Người cầm rìu sau trở thành người trồng lúa, chữ viết chuyển sang bộ Mễ cây lúa. Đến thời kỳ người Việt (Mễ) bị nhóm người Du mục phương Bắc xua đuổi xuống phía Nam, người Việt gắn với tên bộ Tẩu/chạy, vượt thành Việt  .

Kỳ Mạng chặt cây nhiều lần, biểu hiện của sức lao động cần cù, vất vả và phụ thuộc vào thiên nhiên. Sau thời gian dài, thành quả mới đạt và được Thần Thái Bạch cho Gậy Thần. Kỳ Mạng xoay chuyển Gậy Thần làm nên nhà cửa, dân cư sầm uất, cuộc sống ấm no. Đó chính là sự phát triển thịnh vượng của nền Văn Minh Nông Nghiệp, mở đầu cuộc Cách mạng Tân Thạch Lần thứ nhất của Nhân Loại.       

Cây đàn Kinh

                      Tinh thần HÒA của nền Văn Hóa

 

        Nếu hỏi trên hoàn cầu có cây đàn nào giàu chất triết nhất thì phải thưa là cây đàn bầu hay đôc huyền.  Huyền có nghĩa là dây cũng có nghĩa là huyền bí, huyền nhiệm, nhiệm màu. Có rất nhiều lý do để gọi như vậy:

        Trước hết chỉ có một dây mà làm nẩy ra đủ mọi cung trong âm giai.

        Thứ đến lạ lùng hơn nữa là cung nào cũng là cung Hòa.

Các đàn khác chỉ có tiếng đơn (Soni), một hai cung là hòa (harmonique): một mình đàn Kinh thì cung nào cũng là hòa. Nói khác đi nó là âm thanh thứ ba phát sinh ra bởi “Tiếng Sống“ và “Tiếng Chết“. Khi đánh thì dùng cái nạy gảy vào dây, đó là “Tiếng Sống“, nhưng đồng thời cạnh bàn tay lại đè xuống dây, đó là “Tiếng Chết“, cả hai tiếng phát ra một trật làm nên tiếng thứ ba “không Sống, không Chết“ mà là “Tiếng Hòa“.

        Thứ ba đây không phải là hòa thường mà là hoà cùng cực ở chỗ không tìm ra được kẽ hở, như trong các đàn khác, ở dương cầm thí dụ tự Do đến Re là một quảng cách có thể chia ra 9 hoặc 27 coma, nên nếu không kép cung vào để làm nên một âm thanh hòa thí dụ Do Mi Sol  thì vẫn còn quảng cách giữa Do - Mi và Mi - Sol. Đàng này ở đàn huyền dù một coma cũng không thể có, vì tự đó lướt êm sang Re.

        Thứ bốn nhờ cung nào cũng là âm hòa nên có thể diễn tả cả một bản nhạc toàn bằng âm hòa trọn vẹn. Đức tính hòa hợp là tính chất thâm sâu của triết lý Việt Nho có thể hàm ngụ trong những huyền thoại về quả bầu trăm hột hay cái bọc trăm trứng Âu Cơ. Đó là tính chất Tổng Hợp hay là Cơ cấu. Nhớ lại Cơ Cấu là Tổng Hợp. Càng có lý do nghĩ như vậy nên đàn bầu có nơi gọi là đàn Kinh, vì Kinh có nghĩa là sợi dây xâu tất cả yếu tố lẻ tẻ lại làm thành một nét nhất quán hay là mạch lạc nội tại, mà đó là dấu hiệu của Minh triết.

        Cái bọc Âu Cơ cũng là nền Minh triết tổng hợp và được biểu lộ ra bằng những điển chương đầy chất tổng hợp. Vì thế mà đàn bầu quả là một trong những điển chương của nền MINH TRIẾT VIỆT NHO nằm trong sự hoà hợp giữa Âm và Dương: Đạo không phải nhất Âm, Đạo cũng không phải là nhất Dương. Nhưng là cả Âm lẫn Dương hòa hợp: Nhất Âm nhất Dương vị chi Đạo.

Tiếng Đàn chính cũng là tiếng Đạo vậy.

        Và như thế còn một điểm cuối cùng cần được nhấn mạnh, đó là vai trò quan yếu của con người: mọi yếu tố khác như bị xoá nhòa đi để cho vai trò Người nổi bật. Vì rằng hay hay dở là ở nơi Người. Với các đàn khác thì Người không biết động tới ít ra cũng làm phát sinh được âm thanh chẳng hạn trên piano người nào cũng có thể kéo ra một âm giai. Còn với đàn Kinh mà không biết thì chẳng kéo ra được gì ngoài mấy tiếng phèng phèng vô duyên. Trái lại nếu giỏi thì làm nảy sinh ra những tiếng tuyệt vời u linh man mác.  Vì thế có thể nói đàn bầu biểu lộ linh hồn người gảy hơn bất cứ cây đàn nào khác, nên có thể nói nó là cây đàn người hơn hết, cũng như biểu lộ nền triết lý nhân bản Tâm linh  là một triết lý Người hơn bất cứ nền triết lý nào trên thế giới.  Vậy mà cây đàn này lại là của Việt Nam, vì thế ta có thể coi là một di sản nhiệm màu và mong mỏi cho nó vẫn âm vang mãi mãi dưới bầu trời của Việt tộc. Và đấy là sứ mạng của Văn Triết, của Văn hoá Việt Nam.  

        Hiện nay nền văn hoá này đang như con thuyền không lái xoay quanh tứ phía đấy hiểm nguy. Nếu các nhà làm văn hoá biết dùng triết Việt làm kim chỉ Nam thì rồi nó sẽ trở nên cây đàn bầu kinh nghiệm: quy tụ tất cả vào thống nhất.

Kinh Đức Bỉnh Triết là vậy.

 ( Kim Định )


Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét

015004 LĂNG KÍNH LƯỢNG TỬ LUẬN LUẬT QUÂN BÌNH VÀ TRIẾT LÝ ÐẠI HÒA Thái Đông A

013001a NHẬP MÔN

013001a    NGƯỜI VIỆT, TIẾNG VIỆT, ĐẤT NƯỚC VIỆT Một con người chưa hiểu biết về gốc gác của mình chưa thể là con người có văn hóa. Cũng n...