Thứ Năm, 19 tháng 9, 2013

Ứng dụng

  
CHẾ ĐỘ XÃ HỘI NHÂN TRỊ  CỦA TỔ TIÊN VIỆT
VÀ NỀN DÂN CHỦ ĐÁY TẦNG CỦA HOA KỲ
Việt Nhân

Nhân đọc bài “ Ý thức cách mạng Dân chủ đáy tầng . .( 1 ) “ của Ông Nguyễn Anh Tuấn.  cũng như bài  “Con đường cách mạng Việt Nam“ của Đỗ Xuân Thọ trên vietnamvanhien.net, chúng tôi thấy đây là vấn đề vô cùng quan trọng và rất rộng lớn, chúng tôi chỉ xin đề cập đến vấn đề đó trên phưong diện Văn hoá, với quan niệm Văn hoá Việt là mạch sống chung của toàn dân, nên chúng ta không thể coi thường mà bỏ qua, nếu chúng ta muốn có  sự tham gia đông đảo và tích cực của toàn dân.

                                                            A.- Vào đề
Điểm khác biệt đầu tiên là nền “ Dân chủ đáy tầng “ của Hoa kỳ thuộc xã hội kỹ nghệ tân tiến, còn chế độ Nhân trị của Tổ tiên Việt hay chế độ Tự do Bình sản của Tổ tiên xưa là chế độ Quân chủ thuộc nền Nông nghiệp lạc hậu, thời gian cách biệt hàng nhiều ngàn năm, thật khó mà liên hệ với nhau.
Một bên bàn về nền tảng của chế độ Dân chủ hiện đại, còn bên kia lại bàn về Tự do và Bình sản thời xa xưa, nhưng may thay hai bên lại gặp nhau nơi Con Người Nơi Đây và Bây giờ, nhất là nơi nhu cầu thiết yếu của con người. Đây là vấn đề nền tảng nhân sinh của chế độ Dân chủ.

Ông Nguyễn Anh Tuấn đề cập đến Tinh hoa Thánh kinh được các Tổ phụ Hoa Kỳ biết cách đem tinh thần Bác ái và Công bằng thể hiện vào Đời qua các Cơ chế xã hội và được luật pháp hóa hầu mưu phúc lợi hữu hiệu cho mọi người dân. Đây là chế độ Dân chủ tương đối tốt đẹp nhất trên thế giới.

Còn chúng tôi thì khởi đầu bằng Dịch Lý ( Việt Dịch hay Thiên lý ), để dựa vào đó mà tìm cách đáp ứng nhu cầu cấp thiết cho con Người cũng như thiết lập các Cơ chế xã hội thuận Thiên để mưu phúc lợi cho toàn dân.
Nếu chúng ta không khời đầu bằng con Người thì sẽ bị vong Nhân, nghĩa là bỏ đói con Ngưòi ( về vật chất, Tinh thần và nhất là Tâm linh ) cũng như khi lo việc Quốc gia Dân tộc mà không khởi đầu bằng Gốc Văn hóa Thái hòa hay mạch sống “ Dĩ Hòa vi quý “ của Dân tộc thì sẽ vướng vào nạn chia ly phân hoá như hiện nay.
Nạn phân hoá ngày nay là do người ta lấy cái Ngọn ngoại quốc thay cho Gốc Dân tộc, vì quên Gốc chung nên không nhận ra nhau, không chấp nhận nhau! Cái điểm quan trọng mà cha ông chúng ta đã cảnh báo là “ Đồng quy nhi thù đồ : phải tìm lấy điểm đoàn kết toàn dân trước khi tìm cách phát triển bản sắc riêng của từng thành phần Dân tộc “ hay đi học cái hay của người ngoài để vun bồi cho Gốc dân tộc sum suê,  chứ không thể lấy Ngọn Người ta làm Gốc Nước được. Gốc Nước là Hồn Thiêng Sông Núi: tức là Nhân, Trí, Dũng, Khoan dung, cũng là Bi Trí Dũng, hỷ xả, mà cũng là Bác ái Công bằng và Tha thứ.
Bỏ Gốc là Lạc Hồn. Khi mang hồn Mác Lênin hay bất cứ hồn lạ nào về mà chưa nhận ra người Việt  là đồng bào sẽ “ Dị khí nên tương thù “.
Cũng vậy đa phần những người làm văn hoá nhất là làm chính trị khi làm việc Quốc gia mà không khởi đầu từ con Người và Gốc dân tộc để khai thông vấn nạn về con Người và Quốc gia thì cứ dẫm  chân tại chỗ mà không  bao giờ tiến bước được.

Lạ thay Cơ chế Tam quyền phân lập lại có cơ cấu tương tự với Dịch lý Việt, hai đối cực là Lập pháp ( Nhân dân )  và  hành pháp ( Chính quyền ), còn Tư pháp đóng vai trò dung hòa trung gian.  Trong phạm vi Nhân dân và chính quyền thì dùng luật đa số ( majority ), còn trong Tư pháp lại dùng quyền Thiểu số ( competency ), nhờ “ sự kết hợp nhất đa “ này  mà kiểm soát được nhau, giúp chế độ luôn được cân bằng. 
Còn chế độ CS là nền Dân chủ tập trung, chỉ có một chiều cực đoan, nên khi mất cân bằng là sụp đổ tan tành thê thảm.
Nền tảng của chế độ Dân chủ cũng như của Tổ tiên ta là mô hình Kim tự tháp, quyền hành của chính quyền bị thu nhỏ lại, còn cấu trúc của chế độ CS cũng như các chế  độ độc tài  theo mô  hình tháp lộn ngược, chính phủ nắm hết quyền hành của Dân.
Muốn trình bày cho có đầu đuôi, chúng tôi xin lướt qua Vũ trụ quan động và Nhân sinh quan Nhân chủ theo theo tinh thần  “ Dĩ Hòa vi quý “ của Việt tộc qua sự quật khởi văn hoá Việt của Triết gia Kim Định.  
Khi  đọc bài này, xin Quý  Vị  vui lòng lưu ý cho mấy điều sau;
            1.- Vấn đề chúng tôi đề cập dưới đây là vấn đề xưa thật xưa, có người cho rằng đây là vấn dề cũ rích đã lỗi thời, không nên đề cập tới nữa, nhưng vấn đề chúng tôi đưa ra tuy là bình cũ quá cũ, nhưng đã được chế đầy rượu mới của thời đại, chúng tôi trình bày vấn đề muôn thuở của con người không cũ và cũng không mới, nên có thể giúp con Người và Xã hội, trên con đuờng xây dựng Dân chủ  ngày nay.
Đã hàng bao nhiêu năm, chúng ta đã đi học Ngọn nhiều nơi nước ngoài, mà bỏ quên Gốc, Ngọn mỗi nơi một khác, trở nên xa lại với nhau, đánh mất tinh thần đoàn kết dân tộc, gây ra cảnh phân hoá trầm trọng, không thể nào bắt tay nhau mà xây dựng được, trong khi đó nền văn hoá “Dĩ Hòa vi quý “  của Cha ông là tối cần lại bỏ quên!
            2.- Tuy chỉ nói tới những điều gần gũi, nhỏ nhặt, tầm thường, nhưng mỗi cái gần là khởi điểm cho cái xa xôi, những cái  nhỏ đều chứa cái mầm lớn lao, những cái thường lại chứa những mầm mống phi thường, có khi những cái ta tưởng là  tục lại chứa cái thanh, đó là khởi điểm vô cùng quan trọng cho cuộc sống, giúp chúng ta vươn lên từ vực sâu ngày nay. Vì khinh thường những cái sảy, nên dân tộc chúng ta đã để nảy ra cái ung gây thảm họa cho con người và đất nước.
            3.-Từ Vũ trụ quan biến dịch ( Thiên lý ) qua Nhân sinh quan Nhân chủ tới chủ đạo Hòa có một mối Nhất quán là nét Lưỡng nhất của Văn hóa Việt.   Xin vui lòng theo dõi cơ cấu Ngũ hành là điểm then chốt của nền Văn hóa để nhận ra mối nhất quán hầu dễ thông cảm vấn đề. Xin đừng nghĩ là lỗi thời mà bỏ qua, vì nó giúp giải quyết vấn nạn nền tảng Nhân sinh của nhân loại.
B.- Việt Nho
Việt Nho là Nho có nguồn gốc từ Việt, gốc đó là Dịch lý, nền tảng của Dịch lý Việt là Tiên Rồng. Tiên Rồng là cặp đối cực vật biểu duy nhất trên thế giới, mà Tổ tiên xưa gọi là Ngọc Long Toại cũng là cặp Vợ chồng.Nho công thức các cặp đối cực thành Âm Dương.  Còn các nước thì chỉ có một vật biểu, mà vật biểu lại duy Dương, thường đưa tới đời sống Duy Lý một chiều. Tiên Rồng hay Âm Dương là cặp đối cực phổ biến trong vũ trụ. Bỏ gốc Tiên Rồng hay Nhân, Trí, Dũng thì chúng ta rã đám.
                                    I.- Vũ trụ Quan Động: Dịch Lý hay Thiên lý
Để cho vấn đề trình bày có gốc có ngọn và có hệ thống từ Vũ trụ quan tới Nhân sinh quan rồi tới phương cách đem Đạo lý vào Đời có mối nhất quán trong nền văn hoá Việt ( có gốc từ Nho), mà xưa nay chưa có ai bàn cho rốt ráo, nên chúng tôi phải bàn hơi dài.
Vũ trụ quan của Nho giáo:  “ Thái cực sinh Lưỡng nghi, Lưỡng nghi sinh Tứ tượng, Tứ tượng Bát quái, nhi biến hoá vô cùng. Thái cực nhi vô cực.”
Vì sống bằng nghề nông Tổ tiên Việt mới có thời gian chiêm nghiệm điềm Trời Đất, Trăng Sao,Gíó Mưa, mong sao hiểu rõ được thời tiết qua tứ thời bát tiết hầu giúp việc gieo gặt được hiệu quả, nhờ đó mới cảm nghiệm được lẽ biến hoá của Trời Đất.  Đó là Dịch lý. nền tảng của Dịch lý là sự giao thoa của các cặp đối cực, như Tiên Rồng gặp nhau trên cánh đồng Tương. Nho đã công thức hoá thành “ Đại Đạo Âm Dương hòa “.   Trong vũ trụ này, nếu không có cặp đối cực như : Gái / Trai, Cái / Đực, Mái / Trống, Nhị cái / Nhị Đực giao thoa với nhau để làm nguồn sinh sinh hóa hoá thì vũ trụ này chỉ là bãi sa mạc mênh mông.
Chúng tôi chỉ bàn về vấn đề nền tảng “ Thái cực sinh Lưỡng nghi”, đây là cặp đối cực lưỡng hợp hay nét Lưỡng nhất là sợi chỉ hồng xuyên suốt nền văn hoá Việt. Nét Lưỡng nhất cũng là nét Nhất quán của Dịch Việt.
Về  sinh vật nói chung thì có: Gái / Trai, Vợ / Chồng, Cái / Đực, Mái / Trống, nhị Cái/ nhị Đực, Thở Ra / thở Vào, Nói / Ăn , Đi / Đứng,..
Về cấu tạo vật chất.  Vật chất nào cũng được cấu tạo bời nguyên tử với electron mang điện âm ( - ) và positron mang điện dương ( + ).
Trên cấp vũ trụ thì ta có: Tán / Tụ, sức Ly tâm / Ly tâm, Trời / Đất, Thiên / Địa, Thời gian / Không gian. . .
Về triết học thì có: Vô / Hữu, Vô vi / Hữu vi, Vô Thể / Hữu thể. . .
Về con Người thì có: Thở Ra / Thở Vào. Dãn Ra / Co Vào của quả tim, Tinh thần / Vật chất, Tình / Lý, đời sống Tâm linh / đời sống Thế sự…
Về không gian thí có: Trên / Dưới, Trong / Ngoài, Đông  / Tây, Nam / Bắc. . .
Về Thời gian thì có : Trước / Sau,   Quá khứ / Tương lai, Xuân / Thu, Hạ / Đông .
Về: Giáo dục: Thành Nhân / thành Thân.
Về  Kinh tế : Công hữu / Tư hữu.   
Về Chính trị: Nhân quyền / Dân quyền,  Xã hội: Dân Sinh / Dân Trí .
Về Toán học thì có số Âm / số Dương, Vi phân / Tích phân
Về vật lý thì có: sức Ly tâm / Quy tâm, lực Tác dụng / lực Phản tác dụng
Về Hóa học : Âm điện tử / Dương điện tử, ion -/ ion +/ ion - , Base / Acid,
Về Từ học: Cực Nam / Cực Bắc. . .
Ta thấy các đối cực trong vũ trụ cũng phổ biến.

                                                          2.- Ngũ hành
Để giải thích trạng thái quân bình động của Dịch lý, Tổ tiên Việt đã vận dụng tới cơ cấu Ngũ hành.   Các cặp đối cực níu kéo xô đẩy nhau mà đạt thế quân bình động.Níu kéo xô đẩy nhau mà tiến hóa, Tiến hóa luôn ở trạng thái quân bình đông nên thái hoà.

a.- Đồ hình Ngũ hành
Đồ hình Ngũ hành gồm hai cặp đối cực Thủy - Hỏa, và  Mộc – Kim. Thổ là tâm đối xứng. Trước hết nên hiểu chữ Hành, Hành không phải là tố chất như bốn tố chất ( element ) của Tây phương.  Mà hành có thể xem như lưu chất ( agent, fluid ) có thể di chuyển và tác hành với các hành khác, nhờ sự dung hóa của Thổ mà đạt thế quân bình động mà biến hoá.

Hỏa
                                                                     Mộc ← Thổ→ Kim
                                                                                   Thủy 
  
                                                                   Đồ hình Ngũ hành


2
3 ← 5 → 4
1

b.- Số độ Ngũ hành

Cách đánh số: Trước tiên nên biết các cặp đối cực của các số Lẻ - Chẵn: 1 - 2, 3 - 4 đối xứng qua trung cung số 5.    Chỗ ta đứng ghi số 1, trước mặt nhìn về hướng Nam ghi số 2, ngược chiều đồng hồ ( phía Tay trái : Tả nhậm: nguyên lý Mẹ  ) ghi số 3 và ngang qua số 5 ghi số 4.
Đây là những Huyền số rất co dãn, không phải là số toán học để đo đếm, mà các loại Số Lẽ, số Chẵn mang ý nghĩa triết lý.  
Trong số độ Ngũ hành ta có các cặp đối cực 1-2, 2-1;  3-2; 2-3, 1-4, 4-1.
Trong các cặp đối cực trên thì sự cách biệt giữa hai đối cực 2 – 3 là ít nhất, nên có thể xô đẩy, níu kéo nhau mà đạt thế quân bình động mà biến hoá.
Như vậy không phải cặp đối cực nào cũng đạt được thế quân bình, mà chính tỷ lệ phân cách  3 - 2  là tỷ lệ quân bình động, thí dụ trong con  người cặp đối cực về Tình / Lý là 3 / 2 nghĩa là Tình 3 Lý 2, các con số này rất co dãn, không phải là con số toán học, tuỳ theo trường hợp, hoàn cảnh mà mức độ khác nhau, miễn là Tình nhiều hơn Lý. 3/ 2 là tỷ lệ giúp cặp đối cực đạt thế quân bình động, mà Nho gọi là “ Tham Thiên ( 3 ) Lưỡng Địa ( 2 ) nhi ỷ số, người Việt thường hay nói Vài Ba.
Ta có thể kiểm chứng tỷ lệ đó qua thí nghiệm của hai nhà bác Học Dương Chấn Ninh và Lý Chánh Đạo. Khi bắn nhân nguyên tử thì nó phát ra hai tia vi tử Dương và Âm, nếu chắn 2 tia lại mà đo tốc độ thì tỷ số tốc độ Dương / Âm: 3/2 ( Tham Thiên lưõng Địa)

 c.- Cơ cấu các nền Văn hoá
Chúng ta có thể dùng các cặp số này để biểu diễn các nền Văn hoá trên thế giới:
Cơ cấu của nền Văn hoá Ấn Độ là 4 – 1 ( 4 tinh thần 1 vật chất )
Cơ cấu Văn hoá  Tây Âu là 1 – 4.( 1 tinh thần, 4 vật chất )
Cơ cấu nền văn hoá Đông – Nam là 3 -2  của Chủng Việt ( Tình 3 lý 2 ).
3 – 2  ( của Nho ) hay 2- 3 ( hay Vài Ba của Việt Nam ) là bộ cơ cấu cân bằng nhất

                                             2 Nam                                  
                                             ↑                                             
                            Đông 3 ← 5 →                                 
                                             ↓  
                                 
                                             1                                          
                                                                    

Cơ cấu nền Văn hoá Đông Nam của Việt tộc

           
                        ( 1 )                            Tứ tố
Tứ Tố của Tây phương: Nước, Lửa, Khí, Đất ( Nhà Phật gọi là thân Tứ đại ). Sau thêm vào Ether nữa, nhưng Ether cũng vẫn là vật chất.
Còn hành Thổ trong Ngũ hành không phải là vật chất. Để có thể  hiểu rõ ta dùng đồ hình số độ ( 1 ) trên : Nếu ta tách các ô vuông: “ 2 ( hay Hỏa ), 3 ( hay Mộc) , 4 ( hay Kim) , 1 ( hay Thuỷ) ” thì ô số 5 trống không, nên các ô xung quanh tượng trưng cho Hữu, và Hành Thổ ở trung cung trống không tượng trưng cho Vô, Hữu và Vô là cặp đối đãi làm nên thế giới hiện tượng ( manifested world ). Còn VÔ không đối đãi mới là thế giới Tâm linh ( unmanifested world mà Nho gọi là Thái cực nhi VÔ CỰC )
d.- Ý nghĩa các hành trong  Ngũ hành

Hỏa
|
Mộc—Thổ—kim
|
Thủy
                              
                                                    Đồ hình Ngũ hành 

Trong đồ hình Ngũ hành ta có cặp đối cực: Thủy / Hỏa; Mộc / Kim, có Tâm đối xứng là Thổ.  Theo Đông phương:
Thủy là “ vạn vật chi nguyên “: tức là nguồn gốc của Vạn vật, nước có trong các sinh vật, và nhất là trong cơ thể con người thì nước chiếm đến 70%, có lẽ vì vậy mà dùng hành Thủy tượng trưng cho vật chất.  
Hoả là lửa tức là một dạng năng lượng, tương trưng cho Tinh thần, vì khi suy tư con Người cũng phát ra làn sóng, tức là là năng lượng . Vậy đối với con Người cặp Thủy - Hỏa tượng trưng cho Vật chất – Năng lượng ( Tinh thần ). 
Mộc – Kim tượng trưng cho Sinh vật – khoáng chất.
Còn Thổ tượng trưng cho Vô, Vô đây là Vô đối đãi với Hữu.
Như vậy 4 hành xung quanh tượng trưng Thế giới Nhị phân - Thế giới hiện tượng - biến hoá theo Dịch lý, tức là sự biến hoá do các cặp đối cực tương thôi ( Âm Dương tương thôi ), các cặp đối cực xung quanh, tượng trưng cho Hữu, còn Hành Thổ ở giữa tượng trưng  cho Vô, Hữu Vô là cặp đối cực tạo nên thế giới hiện tượng, Cha ông chúng ta gọi là Tạo hóa lư, hay lò Cừ.
                                     Hạ                                            Nam
                                    ↑                                                  ↑
                      XuânTứ quý→ Thu              Đông←Tr. Ương→Tây
                                    ↓                                                  ↓
                                 Đông                                             Bắc
                              
                              Cơ cấu Thời gian                              Cơ cấu Không gian
                                      
Từ đồ hình Cơ cấu Không gian và Thời gian, ta để ý tới tuyết Tương đối của Einstein:
Không gian và Thời gian là hai mô căn bản đan kết với nhau tạo nên Thời – Không – Liên : Time – Space - continuum  mà sinh vạn vật.     Không gian có 3 chiều, còn thời gian là thông số thứ  4 .   ( Xin Xem Video trong www.SPACE.com. Warping Time and Space )
Space, time and matter: The last conclusion drawn from general relativistic cosmology is that, unlike special relativity, it is not physically meaningful to speak of spacetime existing independently of matter and energy. In big bang cosmology, both space and time came into existence along side matterand energy at 'time zero'. If our universe contains more than a critical density of matter and energy, its spacetime is forever finite and bounded, in a shape analogous to a sphere. Beyond this boundary, space and time simply do not exist. In fact, general relativity allows the Conservation of Energy to be suspended so that matter and energy may be created quite literally from the nothingness of curved spacetime. General relativity provides a means for 'jump-starting' Creation!.  Expansion- Contraction Theory . Wikipedia ).

e.- Lạc Thư

Từ Số độ của Ngũ hành, Tổ tiên Lạc Việt đã xếp thành Vòng Trong vòng Ngoài rồi Lạc Thư, trong đó các số Lẻ và số Chẵn  được sắp xếp xen kẻ: số lẻ  theo Hướng chính  Và số Chẵn theo Phương bàng  . Các số Lẻ Chẵn  quay theo hai chiều Vãn và Vạn ngược nhau, đan kết với nhau, cá biệt hóa mà sinh ra vạn vật . ( Xin xem thêm Lạc Thư minh triết của Kim Định ).     Đây cũng xem như Tạo hóa lư.
Ta có thể tìm hiểu theo tiến trình dưới đây:
Từ số độ Ngũ hành ta có thể xếp thành vòng trong vòng ngoài:

Những số trong vòng Trong và vòng Ngoài được xếp thành Lạc Thư như dưới đây:

Chữ Viên = Chữ Vãn ( quay ngược chiểu kim Đồng hồ )+ chữ Vạn (quay cùng chiều Kim Đông hồ )
III.-Tính chất Lưỡng nhất của vài cặp đối cực hay “ Âm Dương hoà “
hay “ Thuận Vợ thuận Chồng “
Các cặp đối cực níu kéo và xô đẩy nhau để đạt thế quân bình động mà Tiến hoá ở trạng Thái Hoà.   
Ví dụ khi hơi thở Vào và thở Ra có lập được thế quân bình động thì con người mới duy trì được sự sống và phát triển, nhờ hệ thần kinh Giao cảm và đối giao cảm được cân bằng. 
Khi sức Quy tậm và Ly tâm có lập được thế quân bình động thì các thiên thể mới được treo lơ lửng và di chuyển trong Không gian vô cùng.
Khi con Người giữ được nếp sống “ Tình Lý tương tham”  thì Tâm an Thân lạc mà sống
hoà với mọi người.
Khi Vợ Chồng biết sống theo“ Tình Lý tương tham”, nghĩa là Vợ Chồng phải Yêu thương
Kính trọng và ăn ở công bằng với nhau  thì mới “ thuận Vợ thuận Chồng “.
Khi  ion -  và ion +  di chuyển ngược chiều, gặp nhau thì tạo ra dòng Điện, điện trường.
Khi Cực Bắc và Cực Nam của Nam châm gặp nhau tạo ra Từ phổ, Từ trường.
Khi Base và Acid gặp nhau thì có phản ứng Trung hòa…

Tuy cặp đối cực có tác dụng ngược chiều nhưng lại có thể tương tác với nhau để lập nên thế quân bình động.   
Ví dụ cái cây có thân cành mọc lên, nhưng Rễ lại đâm xuống, nhưng nhờ sự luân lưu “ Hai Chiều ngược nhau “ của nhựa cây: “ Nhựa sống” thì được chuyền từ dưới gốc lên còn “  nhựa  luyện “ở trên lá lại di chuyên xuống khắp châu thân giúp cây điều hoà được sự sống mà phát triển.
Nhờ hệ thống thần kinh sympathic và parasympathic mà hơi thở Vào ( ) Ra()
được điều hòa mà con người duy trì sự sống và phát triển.
Nhờ lập được thế quân bình động của các đối cực mà sự sống luôn luôn biến hoá theo Chu trình” Sinh, Thành, Suy Hủy theo thời Tiết Xuân Hạ Thu Đông.     Không phải các cặp đối cực nào cũng có thể lập được trạng thái quân bình động, mà chỉ có các cặp đối cực nào có sự cách biệt vừa phải mới thực hiện được, và chỉ có thể thực hiện được khi có sự tương tác hai chiều. Khi đạt thế quân bình động không những có sư Tiến hoá mà còn có trạng thái Hoà.
Đây là Dịch lý. Ta có thể thấy trạng thái vũ trụ Hoà qua các diễn đề trên mặt Trống Đông Đông Sơn mà Tổ tiên chúng ta đã lưu truyền cho con cháu.
Để tổng hợp trạng thái Tiến hoá mà Thái Hòa đó, Nho gia đã công thức hoá thành « Đại Đạo Âm Dương Hòa “. Trong các cặp đối cực thì cặp  “ Vợ Chồng “ là quan trọng nhất
Nên Nho có câu “ Quân tử chi đạo tạo đoan hồ phu phụ “., còn Việt thì nói “ Thuận Vợ thuận Chồng,tát bể Đông cũng cạn “

Vì “ Vạn vật đồng Nhất thể  vạn vật Tương liên: vạn vật đều có cùng bản thể nên có liên hệ mật thiết với nhau”  , và “ Dịch, nghịch số chi lý: Dịch là chân lý ngược chiều”  nên các cặp đối cực đạt thế quân bình động mới có thể lập được mối liên hệ Hoà.
Tất cả sinh vật đều trao đổi nhu cầu sống trong các môi trường chung cho cả nhân loại như không khí, nước, đất, con người còn có thêm môi trường tư tưởng nữa. Các con vật thì sống theo thiên năng, còn con người thì phải tìm cách sống Hòa theo nhịp điệu của Vũ trụ. Đó là cuộc sống thuận Thiên. Tổ tiên chúng ta đã cảnh cáo : «  Thuận Thiên giả tồn, nghịch Thiên giả vong ».
Những sự bất công trong xã hội và hiện tượng môi trường bị ô nhiễm là những hiện tượng nghịch thiên, nó ảnh hưởng đến toàn nhân loại.  Cả hai đều làm mất thế quân bình trong vũ trụ, sự bất công xã hội đã gây những cuộc chiến tranh liên miên, sự ô nhiệm các môi trường đều gây nhiều thảm họa cho nhân loại, thảm họa đó ngày nay đã khởi đầu gây ra nguy hiểm. Ô nhiễm không khí, nước đất, hiện tượng nhà kiếng đều là sự mất quân bình môi trường gây nguy hiểm chung cho cả nhân loại.
 Làm chính trị mà không ý thức được những vấn đề trọng yếu này tất đến lúc trở tay không kịp.
  h.- Ý nghĩa khác của Ngũ hành
Trục dọc  gọi là trục Chí hay trục Thiên Địa ( mùa Hạ: thuộc Thiên :Ngày dài hơn, mùa Đông thuộc Địa: Đêm dài hơn ) , trục Ngang  ― gọi là trục Phân hay Trục Nhân. ( mùa Xuân, mùa Thu: Ngày đêm bằng nhau ), tạo nên Thập Tự nhai .
Hỏa ( Thiên  )
                                                    Thổ ( Nhân )
                                                              
                                                     Thủy ( Địa  )                                                  
Ta cũng có thể coi : “ Nhân “ là sự giao thoa của cặp đối cực Thiên Địa. Nho bảo” Nhân giả kỳ Thiên Địa chi Đức, Âm Dương Chi giao, Quỷ Thần chi hội. . . “Đức của Thiên là Nhân, Đức của Địa là Trí, nên con Người vừa có Nhân và Trí, khi Nhân Trí tương tham thì đạt đức Dũng.
Số 2 : là cặp đối cực, nhờ sự tương thôi hay giao thoa hay lưỡng nhất mà “Tiến hoá “ trong trạng thái quân bình động nên “ Thái hoà “ mà “ Trường tồn “
Số 3 : 1 Trời, 2 Đất, 3 Người, muốn giữ được vị thế “ Tự chủ “để không bị Trời Đất kéo lên hay xuống, nên phải tự Lực, tự Cường, đó là “ Nhân Chủ “                                  Số 5 : nằm ở trung cung, là vị trí của VÔ, nên là Tâm linh: nguồn Sống và nguồn Sáng.
Vậy 2 là Thái hoà, 3 là Nhân chủ, 5 là Tâm linh
2 là cặp đối cực, nhờ sư tương tác «  Hai Chiều « mà tạo nên trạng thái quân bình động mà lập nên Trạng thái hoà trong sự Tiến hóa.  Nhờ đó mà ta hiểu tại sao sự sống «  Duy Lý một chiều «  đã gây ra sự hỗn loạn trong xã hội.
3 là con người Nhân chủ biết tự chủ tự lực tự cường để duy trì vị trí làm chủ vận hệ mình, gia đình mình và đất nước mình, cũng nhờ có khả năng tự lực tự cường mà con người Nhân chủ không bị tiểu Tâm, tiểu Trí lôi cuốn đi vào con đường tiểu Danh tiểu Lợi trái với Thiên lý, mà khi nào cũng cố gắng «  Chấp kỳ lưỡng đoan «  mà ăn ở Hòa với mọi người.  Muốn được thế, thì ta phải biết cách tìm về nguồn Tâm linh là nguồn Nhân Nghĩa mà sống. Nhưng con người nô lệ Thiên  ( mê tín dị đoan ) hay Địa ( coi của trọng hơn người ) đều gây ra tai họa cho con người.
5 là Tâm linh là con đường ngược chiều với Thế sự để đi về nguồn Sống và nguồn Sáng :
Nguồn Sống là Đạo Nhân là lòng Yêu thương, Kính trong và tương dung mọi Người.
 Nguồn Sáng là lẽ công chính hay đức Nghĩa, giúp con ngưòi biết đường ngay lẽ phải, sống công bằng với mọi người để sống Hoà với nhau, con người không thể sống riêng rẽ một mình, mà khi sống chung thì phải có hòa khí để cho cuộc sống có nghĩa. Chứ cứ sống theo lối cá nhân chủ nghĩa với tiểu Tâm tiểu Trí chỉ đi tìm tiểu Danh tiểu Lợi cho riêng mình thì chỉ làm rối loạn xã hội, làm tổn hại đến hạnh phúc chung. Khi ra Sống ngoài xã hội thì năng lượng bị tiêu hao, do đó Nhân Nghĩa cũng vơi dần, nên cần phải luôn tu dưỡng mà bổ sung.
Muốn có Nhân Nghĩa thì phải tu dưỡng hàng ngày, chỉ nói suông về Nhân Nghĩa mà không đem ra mà sống với mọi người thì lời nói vô nghĩa. Vì con ngưòi là Quỷ Thần chi hội, lúc này thì thần thánh, lúc kia là tà ma, nên phải vi Nhân liên lỉ , mà vi nhân thì phải “ hoàn thiện mọi việc” sao cho ngày một hoàn hảo hơn và nhất là “hoàn thiên cách ăn ỡ “ với mọi người để sống Hòa với nhau.  Để hiểu mình hơn thì  nên xem quả để biết cây, cứ xem lối ăn ở của mình với mọi người  xem ra  có tạo được hoà khí hay không thì biết rõ mình là con người thế nào.  Trong lối sống hàng ngày, con người Việt Nho chấp nhận sống với những cái thường thường, những cái tục, những cái nhỏ thấp hèn, những cái dễ đơn giản mà tìm cách vươn lên những cái phi thường, những cái thanh, những cái to hơn cao thượng hơn, những cái phức tạp, vì trong thế giới hiện tượng naỳ không có cái gì là hoàn toàn cao siêu và phi thường cả, và văn hoá cũng chỉ giúp ta từ thực tế có khi phũ phàng của trần thế mà vươn lên những giá trị cao đẹp hơn mà thôi.  Danh từ Việt nhắc nhở chúng ta phải bắt đầu từ những cái nhỏ nhặt thường thường mà vươn lên hàng ngày..
Tóm lại Việt Nho quả là bà chúa Hoà của nhân loại.    Hòa có nguốn gốc Nội khởi, cây đũa Thần ở ngay trong Tâm mình, chứ không ở chỗ nào khác, nếu mình vong thân đánh mất nguồm Hòa thì không bao giờ được yên ổn, khi mình không yên ổn thì mình lại phá sự sống hoà của người khác.
Việt Nho là văn hoá Thái hòa của  đại chúng Việt, đã bị thất truyền trở thành Hán Nho là thứ thứ Hủ Nho sa đọa, nhưng qua công trình khai phá của Kim Định đã thành  triết lý Nhân sinh sinh động, nhờ lý Thái cực : “ Nhất lý thông vạn lý minh : thông được lý  Thái cực thì hiểu rõ  được những lý lẻ tẻ khác“  mà ta có cái nhìn mọi vấn đề một cách thông suốt, nhất là những nan đề của con Ngưòi va xã hội ngày nay : con người Bất Nhân và Xã hội Bất Công.  
Văn hoá này là mạch sống «  Dĩ hoà vi quý «  của dân tộc, nó giúp cho con người Thân an Tâm lạc, Gia đình êm ấm và nhất là thiết lập các Cơ chế xã hội được quân bình và tiến bộ.
Vì thế nó giúp cho những người làm chính trị cần nắm vững một chủ đạo Hoà để đoàn kết toàn dân, và cũng cần có một sự hiểu biết Nền tảng về chế độ Dân chủ và phương cách thiết lập các Cơ chế xã hội quân bình.
II.- Nhân Đạo: Tinh hoa của Thiên Địa Đạo
1.- Những  quan niệm về con Ngưòi
Trên thế giới này vấn đề quan trọng bậc nhất là con Người, vì thiếu vắng con Người thì vũ trụ này chỉ là một thế giới vô hồn, vì thiếu tác năng sáng tạo.Con ngưòi là Tạo hóa con, nên có khả năng sáng tạo mới tiếp tục được công trình sáng tạo của Trời Đất.
Những hoạt động suy tư một chiều chỉ hướng Thiên hay Địa  là những hoạt động xa rời con Người, nên là vong Nhân,vong Thân, kéo theo vong Gia và vong Quốc. Khi vong Nhân và vong Quốc thì  nền tảng đoàn kết Quốc gia bị phá vỡ.
Kitô giáo thì nói con Người là con của Thiên Chúa, mỗi người đều có đền thờ Chúa ngự, Phật giáo thì bảo con người là Phật sẽ thành, Darwin thì bảo nhờ luật tiến hoá mà    vượn biến thành Người, Descates thì bảo: “ Tôi suy tư nên Tôi hiện hữu “, tức là con người lý trí, còn Marx thì con người là con vật kinh tế. . .Những câu định nghĩa này rất đơn giản và quá cô đọng, ta hãy nghe câu định nghĩa của Việt Nho.
 2.- Quan niệm về con người  Nhân chủ của Việt Nho
Việt Nho định nghĩa: Nhân giả kỳ Thiên Địa chi Đức, âm Dương chi giao, Quỷ Thần Chi hội, Ngũ hành chi tú khí: Con Người là cái Đức của Trời Đất, nơi giao hòa của Âm Dương, nơi hội tụ của Quỷ Thần, là tú khí của Ngũ hành hay cũng là tinh hoa của Trời Đất”  Đây là cái nhìn về con Người rất chi tiết, có hiểu rõ được con Người, thì mới biết cách phục vụ con Người cho hữu hiệu.
 a.- Con Người là cái đức của Trời Đất: Con ngưi không để Trời kéo lên thành Duy Tâm hay Đất dằng xuống trở nên Duy Vật, mà luôn giữ được thế quân bình động giữa Trời với Đất, nên giữ được vị thế “ Tự chủ “ của mình,gọi là con Người Nhân chủ.
Để luôn giữ được vị trí Tự Chủ thì con người phải tự Lực,tự Cường, nhờ vậy mà con người trở thành một Tạo hóa con cai quản vũ trụ.
 Tạo hóa con ở trong thế giới hiện tượng luôn biến đổi, nên cũng phải dựa theo Thiên lý mà đổi mới theo, bằng cách tu dưỡng đạo Trời theo lối Mẹ Non Nhân, và Đức Đất  theo lối Cha Nước Trí, sống hài hoà theo Nhân Trí thì đạt đức Dũng. Nói cách vắn tắt để bất cứ ai ai cũng hiểu mà thực hiện được:
Nhân: là thương Người như thể thương Thân, Lá Lành đùm Lá Rách, Tay đứt Ruột xót, Máu chảy Ruột mềm. Chị ngã Em nâng. . .
Trí: là hiểu rõ và thực hiện các đức: Nghĩa, Lễ Trí, Tín tức là cuộc sống công bằng hai chiều:Phải Người phải Ta, Có Đi có Lại, Bánh Ú Đi, Bánh Dì Lại.. .
Dũng: Thương yêu mọi Người và muôn loài và hành xử công bằng ở đời thì đạt Đức Dũng tức là Vô Úy.
 b.- Con Người là nơi giao hội của Âm Dương, khi Âm Dương giao hòa thì được tôn lên làm “ đại Đạo Âm Dương hòa “, đầu mối của Âm Dương là đạo Vợ Chồng. Vợ Chồng có hành xử với nhau hai chiều Tình Nghĩa khăng khít với nhau thì mới đạt hiệu quả “ thuận Vợ thuận Chồng “ để tát bể Đông cho cạn , có thể mà tất cả Vợ Chồng trong nước chung Lòng chung Trí, chung Sức mới làm việc lớn quốc gia được.  Gia đình “ thuận Vợ thuận Chồng “ mới trở thành Tổ ấm để un đúc Tình người, gia đình cũng là công thể hạt nhân làm nền tảng vững chắc cho xã hội chứ không là những cá nhân đơn độc, sống theo lối cá nhân chủ nghĩa như Tây phương.
c.-Con người là nơi hội tụ của Quỷ Thần, tức là nơi đấu trường của Thiện và Ác, nên con người luôn luôn làm cho mình bớt ác mà thiện hơn, tức là con người “ đang thành “, vì thế ai ai cũng phải tu thân suốt đời để giữ ngôi vị con Người cao qúy của mình, đừng để sài lang Tham, Sân, Si choán chỗ.
 d.- Con Người là tú khí của Ngũ hành, tức cũng là tinh hoa của Trời Đất, vì thế mà ai cũng đáng trọng và đáng yêu, vì thế mà trong xã hội Việt Nam, người aăn mày được gọi bằng ông. Khi bẩm thụ khí huyết của cha mẹ, người thì mạnh khoẻ, kẻ thì ốm yếu, người thì thông minh, kẻ thì kém trí, mỗi người một vẻ chẳng ai giống ai, ta không thể bằng vào cái thiên bẩm mà định cao thấp quý tiện, mà giá trị mỗi người là ở công trình vi nhân của tạo hóa con. Đó là sự nghiệp thành Nhân và thành Thân.
 Con Người rất khó hiểu biết về mình,( L’homme cet inconnu ) nên thật khó nói cho đích xác về con Người.Trong những câu định nghĩa trên ta thấy câu của Nho giáo tương đối đầy đủ hơn hết, vì nó giúp ta tìm ra lộ đồ Tu, Tề, Trị, Bình.
 3.- Nhu Yếu thâm sâu của con Người
Từ cái nhìn chi tiết trên, Nho gia nhận ra Thiên tính nơi con người, đó là những nhu yếu thâm sâu của con người: Thực, Sắc, Diện: Thiên tính dã: Cái Ăn uống, Sắc dục và Thể Diện của con Người là Thiên tính, tức là tính được bẩm thụ từ Trời Đất.
Nhân loại không thể từ chối cái ăn, không ai từ chối tính dục nơi gia đình thuận Vợ thuận Chồng , cũng như trau dồi cải Thể cho tốt để cái Diện được lành. Thiếu những nhu yếu cấp thiết đó thì con ngưòi bị tụt xuống cấp sài lang, không còn “ nhân linh ư vạn vật “ nữa.
Cái ăn uống không những phải Ngon Lành, mà còn là phương thế để trau dồi Chân, Thiện Mỹ nữa, do đó mà có câu:  “ Có Thực mới vực được Đạo :, Thực với Đạo là một.( Đã bàn kỹ ở chỗ khác )
Tình dục không những để Vợ chồng kết hợp cả thể xác và Tâm hồn làm một để hưởng cái khóai cảm vô bờ trong khoảnh khắc, mà còn để có đủ Tình thương và nghị lực để un đúc Tình Lý làm người cho con cái. Gia đình “ thuận Vợ thuận Chồng “ còn là nền tảng vững chắc cho xã hội.
Về Thể diện. Mỗi người đều phải tu dưỡng hàng ngày sao cho cái Thể được Tốt   hầu cho cái Diện hoá Lành để ăn ở hoà thuận với nhau.
Những nhu yếu này chính là quyền “Được Ăn và Được Nói “, cũng là nền tảng của Nhân quyền ( được Ăn và được Nói )..  Khi không có của ăn hay quyền Tư hữu thì con Người mất Tự do, khi không có cơ hội và phương tiện trau dồi Thể diện thì thiếu nhân phẩm thì không thể nên Người.
Nói chung đây là nhu cầu Vật chất, Tinh thần và Tâm linh của con Người mà ai ai cũng cần đến. Quên nhu cầu căn bản này là vong Nhân, vong Thân cũng là vong Bản.
Một thể chế chính trị Dân chủ mà không  biết lo toan những nhu cầu căn bản cho con người là thiếu nền tảng, nên là Dân chủ thiếu nội dung.
III.- Đem Đạo ( Nhân đạo) vào Đời để đáp ứng nhu cầu cho
                                Con Người, Gia đình, Xã hội với Chủ Đạo Hòa
 1.- Cá nhân: Tu Thân theo Ngũ thường
Ta có thể dùng cơ cấu Ngũ hành để tìm hiểu về bản chất của con người là tinh hoa của Trời Đất hay “ Thiên Địa chi đức “.
Hỏa
Thổ
Thủy
Trong Ngũ hành Trục tung là trục Thiên Địa, mà con người ( vị trí Thổ ) là Thiên ( vị trí Hỏa )  Địa ( vị trí Thuỷ ) chi Đửc.   Địa ở vị trí thuỷ mà Thuỷ, mà Thủy là “ vạn vật chi nguyên” được xem là Vật chất. Còn Thiên ở vị trí Hỏa tức là năng lượng dưới dạng quang năng. Theo Louis De Broglie thì ánh sáng được truyền theo làn sóng hình sin bao quanh các photon truyền theo đường thẳng. Ta có thể xem làn sóng hình sin như nguồn Tình, và các quang tử truyền theo đường thẳng như lý Công chính.   Vậy con người có Thể chất và Tinh thần, Tinh thần gồm Tình và Lý hay Nhân Nghĩa.
Vì con Ngưòi là Đức của Trời Đất hay tinh hoa của Trời Đất, nên ai ai cũng đáng trọng và đáng yêu.
Con Người là nơi hội tụ của Quỷ Thần, nên cũng lành thánh và cũng đầy Tham, Sân, Si, vì vậy cho nên ai ai cũng phải tu thân theo Ngũ thường, nghĩa là tu dưỡng các đức tính” Nhân Nghĩa, Lễ, Trí, Tín:    Ta có thể biễu diễn Ngũ thường theo cơ cấu Ngũ hành. Nhân là Đạo Nhân là nền tảng cho Nhân đạo, các Đức: Nghĩa, Lễ, Trí, Tìn đều phải được tẩm nhuận Đạo Nhân mới hiệu nghiệm.Nhân là Nội Thánh mỗi cá nhân cần phải tu dưỡng lòng yêu thương Mình, yêu thương  mọi người và muôn loài, con Nghĩa Lễ Trí Tín là Ngoại Vương tức là lẽ sống công bằng cần được mọi người thể hiện ngoài xã hội.
                                                             Lễ
                                                            
                                                TríNhânTín
                                                             
                                                            Nghĩa
Nhân là lòng yêu thương Mình, mọi Người và cả muôn loài.
Nghĩa là bổn phận đối với mình và đối với mọi người.
Lễ là trọng mình và trọng người,
Trí là hiểu mình và hiểu người,
Tín là tin mình và tin người.

Nói gọn lại Nhân là lòng thương yêu bao la, Nghĩa, Lễ, Trí, Tín là lối sống công bằng “có Đi có Lại “. Đây là lối sống hai chiều “ Phải Người phải Ta “ chứ không là nếp sống Duy Lý của cá nhân chủ nghĩa Tây phương.
Nói tóm lại lối sống Nhân nghĩa, Lễ, Trí, Tín là 5 đức tính mà bất cứ ai cũng phải trau dồi thường xuyên gọi là Ngũ thường, lối sống Tình Lý tương tham của cha ông ta được Cụ Nguyễn Du thi vị hóa là: “Bên Ngoài là Lý, nhưng Trong là Tình: Bên ngoài là ngoài xã hội, mà trong là trong Lòng mỗi cá nhân”. Đối với cá nhân thì phải tu dưỡng nguồn Tình, còn sống với nhau bất cứ trong gia đình hay ngoài xã hội đều phải ăn ở công bằng với nhau.
Nhân loại đã và đang hư đi, xã hội đã rối loạn vì con người cư xử bất công với nhau do con người bất Nhân mà ra!
Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí, Tín là 5 đức tính mà ai ai cũng phải thường xuyên phải trau dối mà sống cho đàng hoàng hàng ngày gọi là Ngũ thường.
2.- Vợ Chống: Tề gia
              1.- Gia đình là nền tảng của xã hội, Vợ Chồng là cột trụ của gia đình. Muốn cho gia đình được yên vui thì phải sao cho “ Thuận Vợ thuận Chồng “ nghĩa là Vợ Chồng phải sống theo lối “ Tình Lý ( hay Nhân Nghĩa ) tương tham “ nói rõ ra  khi xử Tình thì cũng phải nhờ Lý công chính soi đường hướng dẫn để cho được “ Phải Người phải Ta “ hầu Tình khỏi bị thiên lệch, khi xử Lý thì cũng phải nhờ Tình ấp yêu để đừng rơi vào lối gian tham, khi đó thì mới lập được mối Hòa, vì Hòa là nguồn của Thân an Tâm lạc hay hạnh phúc. Khi lập gia đình, Lễ Thành hôn là lễ kết hợp vì Tình yêu, sau khi lễ Tơ hồng, hai Vợ chồng vào phòng riêng cùng bái nhau, cùng uống chung một chén rượu để thề với nhau rằng: “ chúng ta thề với nhau sẽ yêu thương, kính trọng và ăn ở công bằng với nhau suốt đời “. Khốn nỗi đa số tưởng rằng đó là hủ tục, nên đã bỏ đi từ lâu!
Hễ gia đình nào còn giữ được thì hưỡng hạnh phúc, còn chê những điều đó là quê mùa hũ tục thì tan đàn xẻ nghé!
Biết được tuy khó, nhưng thực hiện cho được suốt đời chắc còn khó hơn việc lên trời, còn nếu vô ý thức mà sống bừa với nhau thì hạnh phúc gia đình dễ tan biến như việc đốt lông!
2.- * Cha Mẹ đối với Con cái. Thói thường cha mẹ lầm tưởng con cái còn nhỏ chưa biết gì, cứ lấy quyền bề trên mà sai bảo phải vâng lời, mà không đối xử với cung cách Tình Lý tương tham, con cái sẽ nhận ra cha mẹ không còn thương yêu và kính trọng mình, nên mất niềm tin và xa dần cha mẹ, nhiều trường hợp con cái đã bỏ nhà ra đi là vì vậy.
Bổn phận của cha mẹ là phải làm sao cho con cái nên người, nghĩa là phải giúp cho con cái thành Nhân tức là có Tư cách, và thành Thân là phải có Khả năng, để khi trưởng thành có thể sống tự lập, trong hoàn cảnh nào cũng sống một cách đàng hoàng.
 *Con cái đối với  Cha Mẹ. Cũng không ra ngoài khuôn khổ Tình Lý. Về Tình thì con cái phải thương yêu Cha mẹ, vì chẳng ai trên cõi đời này yêu thương mà hy sinh suốt đời mà gầy dựng cho mình nên người ngoài Cha Mẹ.     Về Lý thì phải kính trọng Cha mẹ vì cha mẹ yêu thương và kính trọng mình, vì vậy cho nên phải vâng lời để lập thân cho nên người.
Người ta bảo gia đình là cái nôi ươm Tình Người: Mẹ là nguồn Tình bao la dạt dào như biển Thái bình, còn người Cha là nguồn ánh sáng rực rỡ của mặt trời mới mọc, đó là hình ảnh của lý công chính. Sống được với cha mẹ như vậy thì hưởng được nguồn “ Tình Lý tương tham “ .
Khi nhỏ thì người con phải vâng lời để lập thân, đó là lúc “ Trẻ cậy Cha“,đến lúc cha mẹ già yếu thì con cái phải săn sóc nâng đỡ cha mẹ tức là lúc “ Già cậy con “, như thế mới là đạo làm cha mẹ con cái biết cách ăn ở yêu thương và công bình.
 3.- Anh Chị Em với nhau.  Nói chung là phải thương yêu kính trọng và ăn ở công bằng với nhau, chứ không được lờn nhau.Người bình dân bảo: Trên Kính dưới nhường hay anh nhường em nhịn.. .
 4.- Nhân dân với Chính quyền. Chính quyền là cơ quan có chức năng điều hòa được hai yếu tố Nhân và Dân của con người trong xã hội.
       Với Nhân thì phải có Nhân quyền tức là quyền được Ăn ( cũng là quyền Tư hữu ) và quyền được Nói ( tức là quyền tư do làm người  ) nhờ Nhân quyền mà con người có tự do để giúp cho con người phát triển toàn diên hầu thành Nhân ( có tư cách ) và thành Thân ( có khả năng ).
Do đó mà phải có tự do Tôn  giáo, Đạo giáo,Quốc gia ta đã có Tam giáo đồng nguyên, ai theo đạo nào cũng được mà có cả 3 đạo cũng càng hay, mục đích là tu dưỡng nên người.
Tam giáo đồng nguyên là bản Hòa tấu uy dũng của quốc gia.   Các vị đạo Lão, đạo Phật, đạo Nho khi còn trẻ thì học các Kinh điển Nho tức là con đường Tu, Tề, Trị, Bình.  Có học Nho thì mới đọc các sách đạo được. Đây là điểm đồng quy của Tam giáo, đến khi lớn lên, ai thích Lão  thì lên núi tu Tiên, ai không thích đời thì vào Chùa ngồi Thiền, ai ưa Trị Bình thì lăn lưng vào Thế sự. Nhờ tinh thần tương dung “ Bất đồng nhi hòa “ nên  khi nước nhà gặp nạn ngoại xâm  thì cả ba nhào ra đánh giặc, khi dẹp xong giặc ai lại trở về vị trí ấy. Đó là Tam giáo đồng nguyên.
Ngày nay nước ta có thêm Kitô giáo và nhiều tôn giáo khác nữa ,nhưng tôn giáo nào cũng dạy dỗ thương người và ăn ở công bằng với nhau thì không lẽ nào mà mâu thuẩn với nhau. Khi có sự xích mích tôn giáo là có sự lạm dụng của những người tín đồ cực đoan mà thôi, họ muốn lấy “Đạo tạo Đời “.
Với Dân thì phải có Dân quyền, chính quyển phải thiết lập các cơ chế xã hội có hạ tằng cơ sở cũng như phương tiện đầy đủ để biến xã hội thành ra môi trường có nhiều cơ hội cho người dân phát triển toàn diện hầu đóng góp chung cho xã hội, có thế mới nâng cao Dân sinh và Dân Trí giúp cho dân giàu nước mạnh.
             5.-  Nhân dân trong nước: Đồng bào với nhau
Nhân dân nước ta có chung bọc Âu Cơ Tổ mẫu gọi là bọc Đồng bào. Bất cứ ai trong nước đều là Đồng bào, nghĩa là yêu thương đùm bọc và ăn ở công bằng với nhau: Nào là : “ Lá lành đùm lá rách, Chị ngả em nâng, tay đứt ruột xót, máu chảy ruột mềm.
Đây là lòng Nhân.
Nào là: có Đi có Lại cho toại lòng nhau, Phải Người phải Ta, Bánh Ú Đi, bánh dì Lại.
          Đây là Đức Nghĩa hay Lẽ công bằng.
Nhân Nghĩa là nhân bảo, Hạt ngọc Long toại,Tiên Rồng là Quốc bảo hay Mẹ Âu Cơ: Non Nhân,  Cha Lạc Long: Nước Trí, và con Hùng vương: Hùng cường.
 Năm mối liên hệ trên gọi là Ngũ luân, là nền tảng Hòa đoàn kết Quốc gia, nền tảng của Ngũ luân lại bắt đầu ở Ngũ thường.
Con dân Việt Nam đa số đã coi thường Tình Nghĩa Đồng bào, cho là quê mùa lạc hậu, nên phải đi học cái văn minh cá nhân chủ nghĩa cũng như gian manh quốc tế CS của Tây phương, chuyên dùng nanh vuốt sài lang để dành miếng ăn của nhau, cuối cùng dìm nhân dân vào tròng nô lệ của kẻ thù truyền kiếp.  Ăn ở với nhau tệ quá không đang nhìn mặt nhau, gọi nhau là Đồng bào thì ngượng nên đổi qua Đồng Hương !
Ta cũng có thể biểu diễn Ngũ luân theo cơ cấu Ngũ hành.    Vợ Chồng là đại đạo “Âm Dương hòa “ là gốc cho mối liên hệ Hòa trong Ngũ luân ( Tình Lý tương tham ). 
Một người sống trọn đạo Vợ chồng tất có thể sống trọn các mối liên hệ hòa trong các luân khác.
                                                             Anh Chị Em
                                                                     
                       Nhân dân chính quyềnVợ Chồng  Đồng bào
                                                                     
                                                             Cha mẹ con cái
 Ngũ thường, Ngũ luân là Nội lực của Dân tộc, là nền tảng đoàn kết của toàn dân hay  Chủ Đạo Hòa, xuất phát  từ “ Đại Đạo Âm Dương hòa.” của nền Văn hoá mà cha ông ta gọi là “ Dĩ hòa vi qúy “. Vì khinh khi cho là quê mùa lạc hậu, mất hết Nội lực Tình Lý, nên tan tác như ngày nay.
Những giá trị “ Nhân ái và Lẽ Công bằng “  này chẳng cũ mà cũng chẳng mới, chừng nào con người còn muốn sống hòa với nhau thì vẫn phải cần tới, đây là công việc đòi hỏi mỗi người cần thực hiện hàng ngày thì mới có tác dụng, thói thường người ta chỉ  nói mà chẳng có làm hoặc đòi hỏi người khác làm mà thôi!
Một số các vị trí thức của chúng ta từ lâu đã bỏ gốc dân tộc, khinh khi nguồn nội lực này của cha ông, đi rảo khắp Đông Tây Nam Bắc, tìm cây đũa thần ngoại lực của người ngoài về cứu nước, nhưng khốn nỗi toàn là những thứ đũa tre có tẩm thuốc độc, thuốc mê, làm cả dân tộc mê ngủ triền miên trong nạn vong thân, vong gia, vong quốc, vong nô! Một số người tự hào là đỉnh cao của lương tâm nhân loại, nhưng đã vong nhân, vong quốc vong nô, uống phải độc dược “ Duy Lý “ nước ngoài, đánh mất cái Tâm, làm cho Trí mờ ám mới thẳng tay giết hại đồng bào, phá tan đất nước.
Nếu biết cách học cho được cái tinh tuý của người ngoài về chăm bón cho cái gốc dân tộc ngày càng tốt tươi thì đâu dân tộc ta phải rơi vào thảm trạng như ngày nay.
Cái gương Nhật và Đại Hàn còn sáng rõ ra đó, họ đâu có bỏ nguồn sống quý báu của Nho ( không phải Hán Nho ). Cái thảm họa động đất và sóng thần của nước Nhật mới đây là gương sáng về con người Nhân chủ và  nếp sống Công thể cho thế giới soi chung. Chỉ có những con người như thế mới cứu và dựng nước tốt đẹp được.
3.- Nguyên tắc đem Đạo vào Đời
Nhân dân: Trị quốc
Nền Văn hoá Tổ tiên đặt nền tảng bộ huyền số  235: Cơ cấu của nền Văn hoá Đông Nam. ( Theo bảng Nguyệt lệnh: 2 thuôc Hỏa màu đỏ,  3 thuộc Mộc màu lục, 5 thuộc Thổ màu vàng )
            2: là cặp đối cực giao thoa, với con người là đại Đạo Âm Dung hòa. Đấy là nền tảng của Dịch lý: Động lực của Tiến hoáThái hòa, trường tồn.
            3: Là con người Nhân chủ: Tự chủ tự lực tự cườngcon người biết cách tự Chủ để giữ  lối sống Hoà với mọi người.
            5: Mỗi người phải tìm về nguồn sống Tâm linh: Nguồn sống và nguồn Sáng: Tình Nhân ái và Lý công chính ( Nhân Nghĩa ). Đây là hành trang năng lực để sống Hòa ở đời

                                                                   Hỏa 2 Nam
                                                                       
                                          Mộc 3 ĐôngThổ 5 Kim 4 Tây
                                                                      
                                                                   Thuỷ 1

                                               Đồ hình và số độ của Ngũ hành
 Trong nền Văn hoá trên, quan trọng nhất là con người Nhân chủ, con người này sống theo Dịch lý, nên biết “ Dĩ hoà vi qúy “, con người này Biết Suy tư để khám phá vũ trụ hầu nâng cao đời sống vật chất và tinh thần đồng thời cũng Quy tư về nguồn Tâm linh để cho đời sống Tâm linh và Thế sự được quân bình giúp cho Thân an Tâm lạc.
Văn hoá Việt là mạch sống Hòa của Dân tộc, nên mọi người phải cùng nhau sống theo nền Văn hoá đó rồi đem tinh thần đó vào đời sống xã hội, tức là đem Đạo lý vào Đời. Đạo không đem vào Đời được thì Đạo vô tác dụng, Đời mà thiếu Đạo thì mất hướng thái hoà, con người mà thiếu vắng chất Hòa làm cho Đời hỗn loạn, làm cho nhân dân đau khổ.
Ta có thể biểu diễn các Cơ cấu xã hội theo cơ cấu Ngũ hành. Văn hoá là cái gốc toả sức sống thái hòa ra các cơ cấu xã hội qua các đối cực.    Văn hoá là Đại Đạo Âm Dương hòa, tức là thái hòa trên mọi lãnh vực, dựa trên sức sống Ngũ thường và Ngũ luân.. Về Kinh tế thì phải làm cho Công hữu và tư hữu được cân bằng. Giáo dục là thành Nhân và thành Thân cân bằng. Xã hội là Dân sinh và Dân trí cân bằng. Chính trị là Nhân quyền và Dân quyền Cân bằng. Tỷ lệ cân bằng là 3/ 2 ( Tham Thiên lưỡng Địa nhi ỷ số hay Vài Ba: 2, 3 của Việt)
                                                                Giáo dục ( Thành NhânthànhThân
                                                                 
   Xã Hội (Dân sinhDân trí)VĂN HÓA( Nhân QuyềnDânquyền)  Chính trị
                                                                                   ( Thái hòa )
                                                                  
                                                                                  Kinh tế ( Công hữu Tư hữu )
                                                            
 4.- Cơ chế xã hội
Thành lập các cơ chế xã hôi có mục đích là đem phúc lơi cho toàn dân một cách tương đối công bình. 
Ngày nay người ta không ý thức rõ đến vấn đề công bình tương đối trong xã hội xã hội, còn CS thì đói hỏi công bình tuyệt đối nên tuyệt đối mất công bình, xã hội cứ xáo xào trong những bất công quá đáng.  Nguyên do là không thấy vấn đề được rõ ràng.  Quan niệm cho được vấn để rõ ràng đã khó, mà thực hiện cho được lại khó vô cùng.
5.-  Những vấn đề cần lưu tâm
1.-Quan niệm về công bình tương đối.
Về phương diện lý thuyết thì mọi con Người đều bình đẳng và có những quyền Tự do căn bản mà không ai có thể tước bỏ được, vì mọi người đều là con Chúa con Phật cũng như tinh hoa của Trời Đất. Nhưng khốn thay khi được sinh ra, Người thì khỏe mạnh kẻ thì gầy yếu, người thì thông minh, kẻ lại ngu đần, thậm chí có người còn khuyết tật nữa.
Trong Tân Ước ta thấy có dụ ngôn: Ông chủ gọi các đầy tớ  vào, người thì được giao cho 10 lượng, kẻ 5 người 3, và bảo phải làm lời.  Dụ ngôn cho ta biết những nén đó là của ông Chủ hay nói rõ ra là của Chúa hay Thiên bẩm đó, vì thế cho nên giá trị mỗi người không thể căn cứ trên cái vốn trời cho  ( tiêu chuẩn:  thông minh, ngu đần, yếu, mạnh, lành,  tật ) mà phải kể tới tỷ lệ số lời mỗi người có thể làm được từ số vốn Trời cho mà thôi.
Số lời đó là chính là “Cách vi nhân của mỗi người trên phương diện Thành Nhân và thành Thân“ ,vì thế cho nên chưa chắc gì một người trí thức đã có tỷ lệ trổi vượt hơn một nông dân hay công nhân.
Vì vậy ta nên hiểu thực tế này: Con người được Trời sinh ra trong tình trạng bất bình đẳng, nhưng theo luật tiến hoá ( như nước chảy xuôi, gió thổi từ áp suất cao tới thấp ) mỗi chúng ta phải làm sao cho tình trạng bất công đó được công bằng tương đối mới yên. Nếu ta lờ đi để cho tình trạng bất công lan tràn thì xã hội sẽ tắm máu như đã từng xẩy ra!
Trong nhân loại chẳng có ai giống ai hoàn toàn, mỗi người có Tư cách và Khả năng khác nhau, lấy cái gì làm thước đo công bằng đây? Đòi hỏi công bằng tuyệt đối là sai lầm, vì đây là thế giới hiện tượng, còn lờ vấn đề công bằng tương đối cũng không xong, nạn hồng thủy thế kỷ 20 là do vấn đề bất công xã hội gây nên.  
Thường người ta thường dựa trên Thiên bẩm của mỗi người để tạo ra giai cấp Qúy Tiện, phần Qúy dành quyền ăn trên ngồi trốc,sống sung sướng trên khổ đau của lớp người bần Tiện. Xã hội ngày nay gọi là văn minh nhưng còn lờ đi vấn để quan trọng này, một số những người ăn trên ngồi trốc tuy đã thành Thân, nhưng xét kỹ còn chưa thành Nhân!
Do đó mà trong xã hội chỉ có giá trị công bằng tương đối mà thôi, cho nên cần tổ chức   xã hội làm sao để cho sự phân phối tài sản là nhu yếu đầu tiên của mỗi người ít cách biệt được chừng nào hay chừng ấy, đồng thời xã hội phải là môi trường có thể cung cấp nhiều cơ hội cho mọi người được phát triển hầu giúp cho ai ai cũng có điều kiện tối thiểu mà sống xứng hợp với phẩm giá con người, chứ con người không thể cứ dùng nanh vuốt như sài làng để dành miếng ăn bất chính theo kiểu Cá lớn nuốt cá bé.
2.- Quan niệm về quyền Tư Hữu
Theo Nho thì con Người là một Tài trong Tam Tài : ThiênNhânĐịa.   Tài có nghĩa là tác, tác hành, có tác hành mới đóng nổi vai trò Tạo hóa con được, vì Tạo hóa con cũng phải dựa vào luật biến hoá mà sáng tạo tiếp.  Có làm, có đem công sức tạo ra của cải vật chất cũng như những giá trị tinh thần để nâng cao đời sống. Cha ông chúng ta đã bảo “Tay Làm Hàm nhai, Tay Quai Miệng trễ“, có làm mới tạo ra của cải để tự nuôi sống, những gì mình làm ra do công sức mồ hôi nước mắt của mình thuộc về quyền tư hữu, không ai có thể nhân danh lý do gì để tước đoạt được. Ngược lại, ai cũng là một Tài, nên không thể ký sinh trên những tài khác. Những chế độ Nô lệ, Đế quốc thực dân cùng CS cũng như Phong kiến đều là những thể chế xâm phạm nặng nề đến quyền sống của con người, vì họ bóc lột của cải và quyền tự do của con người, trong đó cái ăn là phần cốt yếu nhất, vì thế cho nên các chế đố ấy luôn kìm hãm những người bị trị trong cảnh nghèo đói và ngu dốt.
Trên thế giới xưa nay có ba quan niệm về quyền tư hữu:
            1.- Trong thế giới Tư bản, quyền Tư hữu là tuyệt đối, quyền này được luật pháp bảo đảm nên không ai có quyền xâm phạm. Nhưng vì con người được sinh ra bất bình đẳng, có người mỗi giờ làm ra hàng trăm hàng ngàn, có người không thể làm ra một đồng, nên khi những người có khả năng, trong tay đã sẵn đồng tiền lại có quyền thế lại càng giàu thêm, gây ra tình trạng “ kẻ ăn không hết, người lần không ra“,     “một người có, chín người không“, khoảng cách giàu nghèo quá lớn là nguyên nhân cho những cuộc cách mạng đổ máu, nguyên nhân sâu xa là do sự lạm dụng quyền Tư hữu!
            2.- Vì không hiểu sự bẩm thụ bất bình đẳng, nên những người CS  cho rằng nguyên nhân bất công trong xã hội là hoàn toàn do sự chiếm hữu bất công, nên chủ trương tước đoạt quyền Tư hữu sung  vào Công hữu để đảng CS phân phối cho công bằng, kết quả những người CS không những chiếm tư hữu mà còn chiếm cả Công hữu nữa, làm giáng cấp con người, phá tan đất nước.  Khi con người bị tước quyền tư hữu tức là mồ hôi nước mắt của mình, con người lúc này chẳng khác gì con trâu kéo cày cho đảng CS.
 3.- Chế độ Bình sản của nền Nông nghiệp lạc hậu
Ta thấy vấn đề Tư hữu đã được đẩy tới hai cực đoan: một bên Tư bản thì quyền tư hữu là tuyệt đối, nên bị lạm dụng gây ra khoảng cách xã hội quá lớn gây ra cảnh tàn sát nhau.  Còn đối với CS  thì họ nhân danh công bằng xã hội, để tước đoạt quyền tư hữu của nhân dân, biến thành quyn tư hữu của dân thành “ đảng hữu”, kết quả biến con người thành súc vật. CS đã dùng ảo tưởng nhân dân, quốc gia dân tộc, quốc tế để đấy ải con người và phá quốc gia mà thôi.
 Tuy còn là thời nông nghiệp lạc hậu nhưng Tổ tiên Việt đã nhận thấy được vấn đề quan trọng của Tư hữu, nên đã không nắm giữ một mình đầu mối Tư hữu hay Công hữu mà“Chấp kỳ lưỡng đoan”: nghĩa là chấp nhận cả hai đầu mối Công và Tư  và tìm cách làm điều hòa giữa Công hữu và tư hữu bằng Dịch lý qua chế độ Bình sản.
Chế độ Bình sản Tự do là chế độ Tổ tiên lấy Công điền Công thổ để điều hoà với quyền Tư hữu, một mặt để giảm sự cách biệt giữa Giàu nghèo, trong xã hội tuy có kẻ giàu người nghèo, nhưng không ai quá giàu và ai quá nghèo, những người nghèo như những cô nhi quả phụ, những người thất thế đều được cấp phát một số công điền công thổ để tự canh tác lấy mà sống tự lập, để có miếng ăn mà vực lấy đạo làm người: “ có Thực mới vưc được Đạo “ Thực có Đạo ẩn tàng  trong đó. Cái ăn là nền tảng Tự do căn bản của con người, tước đoạt Cái ăn là phần Tư hữu nền tảng của con người không những chống con người mà chống lại Thiên tính tức là chống lại Tạo hóa.   Còn những người khuyết tật thì cho rong canh ruộng được cấp phát nghĩa là cho người khác canh tác lấy hoa lợi mà sống, nhờ vậy mà người nghèo vẫn sống được, không xẩy ra tình trạng vô gia cư và không ai lấy miếng ăn mà áp bức được, CS lấy hộ khẩu và tem phiếu để khống chế con người buộc toàn dân làm  nô lệ.
 Vào thập niên 40 Công điền công thổ ở miền Trung còn khoảng 26%, còn miền Nam là thuộc địa của Pháp thì tỷ lệ rất ít, vì Pháp là gốc của nền tư hữu tuyệt đối, nên mới có những điền chủ có ruộng  “ cò bay thẳng cánh”, mà tá điền thì thành vô sản, là kẻ nô lệ, vì không có công điền công thổ để canh tác như miền Bắc và miền Trung.
Đây là sự công bằng tương đối không những giúp tất cả mọi người và nhất là những người nghèo khó có đời sống xứng với nhân phẩm.  
 IV.- Nền tảng Đạo lý vào Đời theo Việt Nho
1.- Vấn đề đoàn kết toàn dân
Nhờ sống an bình theo nghề nông thời cổ sơ, khi đó trực giác còn mạnh,nên Tổ tiên Việt đã cảm nghiệm được Vũ trụ quan Tiến hóa và Thái hòa, Nhân sinh quan Nhân chủ,và nguồn sống hài hòa giữa Tâm linh ngược chiều với Thế sự, để giúp Thân an Tâm lạc, tức là hạnh phúc.
Khi không hiểu được Tâm linh và Thế sự là chân lý ngược chiều thì đánh mất nguồn Sống và nguồn Sáng, không thể biết cách sống làm sao cho hài hòa giữa Tâm linh và Thế sự.  Một dân tộc mất nguồn gốc này là mất nguồn gốc Hòa giúp đoàn kết toàn dân.
 Chân lý ngược chiều là nền tảng của Nho, Nho là tổ cơ cấu, nên Tổ tiên Việt đã khai sáng ra lộ đồ Tu, Tề, Trị, Bình, trong đó có Cơ cấu xã hội rất quân bình, nên rất hiệu nghiệm để mưu hạnh phúc cho con người, mà nguồn cội của hạnh phúc là sự sống hài hòa giữa con người với con Người và con người với vũ trụ, nhưng vào thời đó Lý trí con người chưa phát triển, nên chưa thể biết đem Khoa học Kỹ thuật để nâng cao Dân sinh Dân trí được theo Tinh thần “ Phú chi Giáo chi “. 
 “ Cái khó bó cái khôn “  do chế độ phong kiến Bắc phương và Chế độ thực dân Tây phương nhất là CS gây ra làm cho dân tộc chúng ta không ngóc đầu lên được. Sống trong nghèo khó và ngu dốt lâu ngày nhân dân chúng ta đã mất ý thức về con Người và ý thức Quốc gia, chỉ còn lại thứ tiểu tâm, tiểu trí, chuyên lo tiểu Danh, tiểu Lợi, nên mất hết nội lực khiến  không thể vùng lên vực dậy được. Vậy vấn đề tiên quyết là phải phục hoạt lại Đạo lý Nhân sinh xây dựng lại con người Nhân chủ hay “ Trai hùng gái đảm”.  Thiếu con người cở này thì không thể thoát ra vòng nô lệ cách này hay cách khác.  Chúng ta xây dựng chế độ Dân chủ không những có hình thức, mà còn phải có nội dụng. Người Dân thiếu Tư cách và Khả năng thì không thể đụng tới vấn đề Dân chủ.
Trước khi đề cập tới vấn đề Dân chủ, chúng ta không thể không bàn bàn tới đạo lý dân tộc, vì chỉ có Đạo lý Hòa của dân tộc chúng ta mới giải quyết được vấn đề giải phóng con Người ( qua quyền được Ăn và được Nói) và đoàn kết dân tộc ( qua chủ đạo Hòa ) một cách vững chắc. Ngày nay nhiều người đã khinh lờn cái gốc đạo lý Dân tộc mà bôn ba đi tìm cái ngọn ngoại bang dùng làm Gốc dân tộc nên mới bị phân hoá mà tan đàn xẻ nghé như ngày nay.   
Đã hơn mấy thế kỷ nay dân tộc chúng ta cứ loay hoay ở vấn đề này, CS đã dùng gian kề lừa đảo cho vào tròng độc tài chuyên chính, đến nay chưa gỡ ra được.
 2.- Vấn đề Cơ chế xã hội tiến bộ và quân bình
Nhờ tìm ra tính lưỡng nhất của các cặp đối cực mà ta có thể thiết lập các Cơ chế xã hội quân bình mà luôn tiến bộ. Để đạt vị thế quân bình, thì tỷ lệ Thiên Địa là 3 / 2.
   Về Chính trị thì phải điều hòa được hai đối cực Nhân quyền và Dân quyền.
Là Nhân thì phải có Nhân quyền, là Dân thì phải có Dân quyền. Nhờ có Nhân quyền mà con người có cơ hội được phát triển được toàn diện, nhờ Dân quyền mà người dân có cơ hội và phương tiện làm việc để góp công xây dựng gia đình và đất nước.
    Về Kinh Tế thì phải điều hòa được hai thành phần Công hữu và Tư hữu để giúp những người thất thế hầu làm giảm bớt khoảng cách giàu nghèo trong xã hội.
    Về Giáo dục thì phải điều hòa được giữa hai yếu tố thành Nhân và thành Thân.  Phải học tập kinh điển để trau dồi Tư cách, phải học khoa học kỹ thuật để trau dồi Khả năng
    Về Xã hội phải điều hoà được hai yếu tố Dân Trí Dân Sinh.Có nâng cao đưọc Dân sinh thì mới có điều kiện để học hành mà nâng cao Dân trí, Dân trí có được nâng cao thì mới có khả năng nâng cao Dân sinh. Hai yếu tố này cần phải được tuần tự nâng cao, nhưng khởi đầu là Dân sinh.
 3.- Chế độ xã hội Nhân trị
Tuy danh xưng là chế độ Quân chủ, nhưng chế độ Chính trị xưa là chế độ Nhân trị. chế độ này không những nhân đạo mà còn có tính cách dân chủ nữa.
Nhân trị gồm Lễ trị và Pháp trị.
     Lễ trị là phương cách giúp mọi người tu thân đễ tự mình giữ gìn không phạm pháp, đây là hàng rào cản tự ý bên Trong  mỗi người.
    Pháp trị là dùng pháp luật bắt buộc của nhà nước để răn đe và ngăn cản những ai vì yếu đuối mà phạm pháp. Đây là hàng rào cản bên Ngoài. 
Một chế độ mà có hai hàng rào cản Nội Ngọai thì ít kẽ hở, nên xã hội yên hàn và nhân đạo hơn.
Tuy nhiên trong tình trạng xã hội đang hỗn loạn thì phải tùng quyền, mà chưa thể chấp kinh, nên phải dùng pháp trị để lần lần đưa tới tình trạng ổn định. Khi đã ổn định thì phải xây dựng thêm phần Nhân trị để cho chế độ được cân bằng,
 4.- Ranh giới giữa Nhân dân và chính quyền
Muốn cho sự liên hệ giữa Nhân dân và chính quyền được hài hòa, thì mỗi phía phải có một lãnh vực riêng cần được tôn trọng  để bảo vệ bản sắc riêng của nhân dân từng địa phương. Làn chia phân ranh trong chế độ xưa là Triều Đình: quyền hành của nhà Vua “ Triều “  chỉ tới được cái “ Đình làng” của Dân mà thôi chứ không đí tới thôn xóm được. Trong xóm làng là thuộc xã thôn tự trị, nơi đó “ Phép Vua thua lệ Làng”. Mọi việc trong làng đều tuân theo Lệ Làng, Lệ Làng do nhân dân xây dựng và quản trị lấy bằng Hương Uớc sao cho phù hợp với nhu cầu địa phương, miễn là dân làng phải đóng góp chung cho đầy đủ, như thuế má, nhiệm vụ xây dựng công ích cũng như Quốc phòng. . .Nhà nước thì có luật lệ chung cho cả nước.
Ranh giới giữa Nhân dân và chính quyền ở Hoa Kỳ không ở cấp cộng đồng mà là ở cấp Tiểu bang.
                            V.- Chế độ Dân chủ của nền Kỹ nghệ tân tiến Hoa Kỳ 
Chế độ Dân chủ là chế độ kỹ nghệ công nghiệp luật pháp hóa tinh thần Bác ái và Công bằng vào các cơ chế xã hội thành Hiến pháp Quốc gia để thực hiện chính thể “ do Dân cho Dân và vì Dân “, bằng cách :
            a.Thiết lập chinh thể Tam quyền Phân lập để tránh tình trạng một chiều làm mất quân bình các cơ chế.
            b.-Thiết lập ranh giới giữa Nhân dân và Chính quyền ở cấp Tiểu bang, chính quyền chỉ giữ chính sách điều hòa chung, mà không đi sâu vào nội bộ của các Tiểu bang.
            c.- Đánh thuế lũy tiến để xây dựng các hạ tằng cơ sở cùng các phương tiện đều khắp cũng như xây dựng các cộng đồng đủ tiện nghi để  biến xã hội thành môi trường  thuận lợi hầu cho ai ai cũng có cơ hội thành Nhân và thành Thân. Đồng thời lập quỹ An sinh xã hội để giúp những người có lợi tức thấp có đủ điu kiện tối thiểu sống xứng với Nhân phẩm. Đây là thực thi sự công bằng tương đối do lòng bác ái mà gây dựng nên.
                       VI.- Những điều cần quan tâm trong nền  Dân chủ của Hoa Kỳ
và  Chế độ Nhân trị của Tổ tiên
Qua những điều đã trình bay ở trên và 9 điều nền tảng mà Ông Nguyễn Anh Tuấn đã nêu lên  trong bài “Ý thức nền Dân chủ đáy tầng “, chúng tôi có vài ý như sau:
 Tuy còn ở thời kỳ thô sơ lạc hậu, nhưng ta thấy cái Gốc nền văn hoá Tổ tiên chúng ta đã đáp ứng được nhiều điều nền tảng trong các mục : 1, 2, 3, 4, 5 , còn các mục 6, 7, 8, 9 thì chúng ta phải học hỏi thêm nơi Tây phương nhất là Hoa Kỳ.
Đây là về phương diện luật pháp và khoa học kỹ thuật.Ngày nay con cháu chúng ta đã có mặt khắp nơi và đã thành công xuất sắc, chẳng phải mất công nhiều như nước Nhật ngày trước, nên vấn đề quy tụ là tiên quyết.
Sở dĩ chúng tôi cứ lặp đi lặp lại cái gốc Văn hoá Dân tộc là chủ ý giải quyết vấn đề đoàn kết quốc gia cũng như vần đề Nội lực Dân tộc, vì thiếu hai nền tảng đó thì trước sau gì chúng ta cũng gặp rắc rối.
Tuy nhiên đây mới chỉ nêu ra được một số nét chính cần lưu tâm, chúng ta cần phải có sự đóng góp chung toàn quốc để đúc kết lại thành một tài liệu căn bản về Quốc kế Dân sinh về Nội trị và Ngoại giao làm Lộ đồ Quốc gia, đó là điểm Đồng quy.
Sau đó mới qua bước Thù đồ nghĩa là thành lập những ban ngành chuyên môn nghiên cứu về văn hoá dân tộc, chính trị quốc gia, về luật pháp, xã hội Dân chủ, khoa học kỹ thuật tân tiến, về truyền thông, nhất là tình hình cụ thể mọi lãnh vực ở Việt Nam . . . .mới có thể hoạch định  được Quốc kế Dân sinh thích hợp và hữu hiệu.
Khi đưa Quốc kế Dân sinh ra thi hành thì phải có sự đóng góp tích cực của các nhà truyền thông để dấy lên một phong trào vận động chung toàn quốc mới mong mọi người canh Tân, mà Hòa giải với nhau thì mới tiến bước lên được.
Thực ra các nhà làm chính trị phải biết quyền biến, phải hình thành cho đượcgiai đoạn chuyển tiếp vừa phá họai cái cũ lạc hậu vừa xây dựng cái mới tốt đẹp hơn để đưa dần vào khuôn khổ ổn định.
Dưới đây xin trích  9 điểm của Ông Nguyễn Anh Tuấn để tiện đối chiếu:
” Trong khi ấy, tiến trình xây dựng cách mạng Tự Do Dân Chủ là tiến trình khuyến thiện trừng ác với một nền văn hóa nhân bản nhất và đầy đủ giá trị cần thiết nhất, để xây nên những xã hội TỰ DO, BÌNH ĐẲNG, ĐẠO ĐỨC VÀ CÔNG LÝ với ba giá trị nền tảng là TÔN GIÁO, ĐẠO ĐỨC VÀ VĂN HÓA. Vì thế, tiến trình phá hủy và xây dựng của cách mạng Tự Do Dân Chủ cần nhấn mạnh đến những điểm sau đây:
           1. Ý thức về thực trạng xã hội với những căn bệnh trầm kha của xã hội cũ mà các chế độ độc tài đã để lại.
            2. Ý thức mới trong chế độ Tự Do Dân Chủ và một hệ thống giá trị vững chắc để xây dựng xã hội cho những con người Tự Do Bình Đẳng.
           3. Phải tạo ra một môi trường văn hóa trong sáng và lành mạnh để hướng dẫn quần chúng , để nâng dân trí lên với những giá trị của tôn giáo, luật pháp, chính trị, xã hội của nền văn hóa Dân Chủ.
            4. Phải nắm vững các lý thuyết chính trị, triết lý hay đạo lý chính trị để có ánh sáng dẫn đường cho cách mạng Tự Do Dân Chủ.
           5. Đề cao và làm thật sáng tỏ giá trị của Dân Chủ Đáy Tầng với những nguyên tắc căn bản của Hiến Pháp Dân Chủ, để toàn dân chuẩn bị viết Hiến Pháp cho Quốc Gia, để hướng dẫn xây dựng trật tự chính trị và trật tự xã hội.
            6. Xây dựng xã hội dân sự và đặt nền móng cho mối tương quan xã hội và hợp tác xã hội giữa dân và dân, giữa dân và chính quyền .
           7. Xây dựng hệ thống luật pháp để bảo vệ trật tự cho xã hội.
           8. Xây dựng xã hội chính trị và xây dụng các hệ thống chính quyền của địa phương bao gồm Làng, Xã, Quận, Tỉnh để CƠ CẤU HÓA, CHÍNH THỐNG HÓA và LUẬT PHÁP HÓA quyền làm chủ đất nước và quyền tối thượng của toàn dân bằng bản Hiến Pháp Quốc Gia và những bản Hiến Pháp hay Hiến Chương của mỗi địa phương.
          9. Xây dựng chính quyền Quốc Gia trên bốn nguyên tắc:
               a. Một chính quyền đại diện cho dân (Representative Government )
               b. Tam quyền phân lập độc lập với nhau, nhưng có quyền kiểm soát và chế tài lẫn nhau, để giữ thăng bằng quyền lực Quốc Gia và bảo đảm không có sự vi phạm Hiến Pháp Quốc Gia.
              c. Giới hạn quyền hành của chính quyền Quốc Gia tại Trung Ương càng nhiều càng tốt.
              d. Tất cả cứu cánh tối hậu của chính quyền là đem hạnh phúc đến cho toàn dân.
Vì tất cả quyền hành tối hậu của Quốc Gia đều thuộc về toàn dân nên chính quyền chỉ là những người phục vụ dân mà thôi. Đây là cuộc cách mạng Dân Chủ Đáy Tầng               ( Grass Roots Democracy ) chắc chắn sẽ xảy ra tại Việt Nam, Hoa Lục, Bắc Hàn và các nước Á Châu trong những ngày tháng sắp tới. Phần đông các Quốc Gia kể cả các học giả chính trị thường chỉ đề cập đến chế độ Dân Chủ Tự Do (Liberal Democracy), Dân Chủ Xã Hội (Socialist Democracy) và Dân Chủ Nghị Viện (Parliament Democracy). Nhưng rất ít học giả kể cả học giả Âu Châu, Đông Âu kể cả Nga sô không mấy ai chú ý đến nền Dân Chủ Đáy Tầng mà Hoa Kỳ đã khai sinh ra từ cuộc cách mạng Hoa Kỳ năm 1776.Vì thế, Dân Chủ Đáy Tầng là một khám phá mới sau nhiều năm học hỏi và nghiên cứu về nguồn gốc, sự hình thành và phát triển qua gần 3500 năm của nền văn minh dân chủ Thế Giới, được Hoa Kỳ tổng hợp lại để khai sinh ra nền Dân Chủ Cộng Hòa cho chính mình và cho tất cả nhân loại. Các nhà lập quốc Hoa Kỳ (The Founding Fathers) đã đưa ra được những giải pháp cho những vấn nạn chính trị và kinh tế của một thế giới đang bị tàn phá tan hoang vì tranh chấp , thù hận và chiến tranh triền miên.”  
( Trích trong bài nền Dân chủ đáy tầng của Ông  Nguyễn Anh Tuấn )
 C.- Lời kết
            1.- Trong thế giới hiện tượng của các cặp đối cực biến đổi này mọi sự đều tương đối, vạn vật đều biền đổi không ngừng, không thể bám vào vật chất và cũng không có cái gì là tuyệt đối, nên không thể cố chấp mà hành xử Hòa với nhau được. Đây là mầm mống gợi ý ra chế độ Dân chủ, giúp chúng ta biết chấp nhận nhau và bớt dằng xé nhau.
 2.- Chế độ quân chủ phong kiến phương Bắc,Đế quốc Thực dân và CS phương Tây đã nhận chìm dân ta xuống bùn sâu đến ngạt thở, nên ai ai cũng khao khát phong trào dân chủ cả, chế độ này quý giá lắm, nó có hình thức phóng khoáng và nội dung phong phú, giúp ai cũng sống thoải mái và hạnh phúc chung.  Nhưng chế độ này không phải  trên Trời rơi xuống hay Chúa Phật ban cho được, mà mỗi một chúng ta phải tự tay xây dựng, ngoài chúng ta không ai làm được. Thế mà đa số chúng ta cứ tưởng rước được cái hình thức chế độ tam quyền phân lập là xong, mà quên mất vấn đề con người. Con người mà hễ ngồi lại với nhau là có chuyện lôi thôi thì có hợp lực đâu mà làm cái gì, khi đó lại dẫm chân lên lốt CS, lấy luật sắt máu mà kềm cổ nhau lại cho mau được việc. Vậy không muốn theo lốt độc tài thì hai vấn đề cần giải quyết:
1.-Làm sao cho con người có Tư cách và khả năng Dân chủ để thực hiện chế độ Dân chủ.
           2.-Dựa vào tiêu chuẩn nào để giúp nền tảng đoàn kết toàn dân cho được lâu bền và vững chắc, có cần một chủ đạo Hòa nơi Gốc Dân tộc không hay là đi tìm cây đũa thần ngoại quốc nào khác?
           3.- Ngày nay chúng ta đang kêu gào cho có đa nguyên đa đảng. Đa đảng thì tốt ,nếu là để phát triển bản sắc riêng của từng nhóm mà chung Lòng chung Trí chung Sức cùng toàn dân mà phục vụ quốc gia. Còn đa nguyên thì hơi nguy, nếu không tìm được căn bản Đồng quy để đoàn kết với nhau, khi đó  quốc gia như Con Rắn nhiều đầu, mỗi đầu dẫn đi mỗi phía, liệu con rắn quốc gia đi theo đường nào hay cứ bị kéo quanh lộn vòng, há lẽ  đợi đến khi tan vỡ rồi mới tìm phương đoàn kết chăng!
           4.- Mỗi quốc  gia phải có Quốc kế Dân sinh phù hợp, các nhà làm chính trị, các đảng phái đã có Quốc kế dân sinh đàng hoàng chưa, có cán bộ mọi ngành đầy đủ chưa, hay là khi nước đến trôn rồi mới nhảy?.
 Đây là những câu hỏi hơi nhức đầu mà chúng ta không thể lảng tránh nếu chúng ta muốn cùng nhau thức dậy mà đi cho đến nơi đến chốn.
 Tắt một lời, tất cả bài viết trên cũng chỉ tìm cách giải quyết  vần đề căn bản hiện nay là  “ con Người bất Nhân và xã hội bất Công “.
Muốn cứu vãn tình thế thì mọi Người ai ai cũng phải Tôn trọng yêu thương và ăn ở “ Phải Người phải Ta “ để toại lòng nhau  thì mới mong lần lượt giải quyết được nan đề con Người và xã hội.
Nhân loại đang thất bại ở điều căn bản này. Cái khó không chỉ ở một người, mà là trách nhiệm chung của mọi người biết sống Hòa với nhau.
Ngày nay con dân Việt đã tản mác ra bốn phương, học được nhiều điều hay điều dở, giúp chúng ta biết mở Lòng mở Trí ra, trước hết là chấp nhận những dị biệt của nhau, mà ngồi lại với nhau, đúc kết lại những gì có ích cho con Người và Đất nước, rồi góp sức chung mà xây dựng thì việc gì cũng nên.
Trong giai đoạn cao tốc này có người sẽ cho là chuyện quá lâu  dài, không thực tiễn, nhưng chúng ta không thể để cho nhân dân đói mãi,ngu dốt mãi và chịu bất công xã hội triền miên, lại nữa cái gì mau đến sẽ chóng đi, và quan trọng hơn là nó ra đi với cái tai họa còn nhiều hơn họa CS nữa!.
Nếu chúng ta muốn hoạt động theo lối “ Cá ăn kiến, kiến ăn cá “ thì không còn gì phải nói thêm!
 Hy vọng thay!

Việt Nhân
 






                ( 1 ) : Ý THỨC CÁCH  MẠNG DÂN CHỦ ĐÁY TẦNG
TẠI VIỆT NAM- HOA LỤC VÀ Á CHÂU
The Vietnamese-American Political Science Study Group in USA for Democracy of  Vietnam and Asia.
 I. SỰ TRỔI DẬY CỦA LƯƠNG TÂM CON NGƯỜI TRƯỚC LUẬT TRỜI VÀ CÁC CHẾ ĐỘ ĐỘC TÀI TRÊN THẾ GIỚI.

Nhân loại ngày nay đang đứng trước những làn sóng lịch sử của TỰ DO DÂN CHỦ  và làn sóng này đang lan tràn  tới Tunisia, Ai Cập, rồi vào Yemen, Libya và khắp cả vùng Trung Đông. Để rồi đây, làn sóng này sẽ lan tràn vào Việt Nam, Hoa Lục, Bắc Hàn và các nước Á Châu để xô đổ các nhà độc tài và các chế độ độc tài man rợ, ích kỷ, độc ác, tham lam, mù quáng đầy dục vọng quyền lực đã chống lại Trời đất và đạo lý của Trời, chống lại sự thật và lẽ phải, chống lai sự sống và quyền sống của con người khắp nơi- đặc biệt là tại Á Châu - nơi những chế độ độc tài lạc hậu và phản tiến hóa này đã hiện diện trên dòng sinh mệnh của con người và dòng sử mệnh của Đông phương từ hơn 2000 năm qua, đã hành hạ và hiếp đáp bao thế hệ con người cho đến nay vẫn chưa chịu buông tha cho họ.
Trải qua bao ngàn năm, con người đã gục đầu câm nín trong uất nghẹn, trong đau khổ tủi nhục và đắng cay không bút nào tả xiết. Dâm chí và đa dục của những chế độ quân chủ chuyên chế và tầng lớp phong kiến của nho quan hủ bại đồng lõa với nhau đã làm cho đạo lý của Trời và văn minh, văn hóa của xã hội con người không còn ý nghĩa gì cả. Và quan trọng hơn, con người được Đấng Tạo Hóa tạo dựng nên đúng như hình ảnh của Người, và con người đều là con cái của Đấng Tạo Hóa; vì thế, con người được quyền làm chủ tất cả các loài cá trong biển cả, tất cả loài
chim chóc trên trời, làm chủ muôn sinh vật dưới mặt đất, và làm chủ luôn cả cỏ cây hoa trái, cũng như những gia sản quý báu trong lòng đất- khi tất cả con người đang còn sống dưới trần gian này. Thánh Kinh dạy rằng, tất cả con người đều bình đẳng trước Thiên Chúa và bình đẳng trước Luật Siêu Nhiên của Trời và Luật Thiên Nhiên. Nghĩa là vua quan, trên dưới, giàu nghèo, sang hèn đều phải theo luật của Trời Đất mà sống và xây nên xã hội và cộng đồng cho con người để con người cùng sống thanh bình, an lạc bên nhau. TẤT CẢ ĐỀU BÌNH ĐẲNG, TẤT CẢ ĐỀU LÀ NHỮNG CON NGƯỜI TỰ DO. Con người nếu có gì khác nhau- đó chính là sự khác biệt về chức năng của mỗi người mà thôi. Vì thế chế độ Tự Do Dân Chủ  hiện nay trên toàn thế giới rất thuận lòng Trời và hợp với lòng người . Cũng như nền văn minh dân chủ mà các nhà lập quốc Hoa Kỳ đã khai sinh ra để đem dâng hiến cho tất cả nhân loại từ mấy thế kỷ qua, cũng rất hợp với sự thật và lẽ phải vì nó tôn trọng sự sống, quyền Tự Do và quyền tìm kiếm hạnh phúc của con người.
Trên thực tế của lịch sử văn minh văn hóa và trên thực tế của lịch sử chinh trị thế giới từ bao ngàn năm qua- nhất là tại Đông Phương- những con người Tự Do đã bị tước đoạt Tự Do, những con người được quyền chia sẻ Quyền Làm Chủ trái đất này và muôn sinh vật trên đó đã bị tước đoạt Quyền Làm Chủ của họ. Đó là quyền mà Đấng Tạo Hóa đã ban cho tất cả con cái của mình. Cuối cùng, những con người bình đẳng trước Thiên Chúa và luật của Trời đất cũng bị tước đoạt luôn quyền bình đẳng của họ khi họ sống trong các chế độ độc tài man rợ. Trong lúc Đấng Tạo
Hóa sinh ra con người muốn ban cho con người Tự Do, muốn cho tất cả con cái nhìn nhận nhau là anh em của nhau- vì tất cả chỉ có chung một NGƯỜI CHA- và muốn họ đều bình đẳng với nhau. Con người là sinh vật xã hội (social being) nên con người phải có đạo đức và công lý để chia sẻ quyền LÀM CHỦ tất cả của cải trên mặt đất này để cùng sống thanh bình, an lạc và hạnh phúc bên nhau. Phải chăng lý tưởng TỰ DO DÂN CHỦ đã được Đấng Tạo Hóa muốn con người xây dựng nên ngay từ thời Khởi nguyên?
ĐÓ LÀ THEO LUẬT TỰ NHIÊN CỦA TRỜI ĐẤT
Vì thế khi các chế độ độc tài tước đoạt quyền TỰ DO , tạo ra những xã hội bất bình đẳng và tước đoạt quyền LÀM CHỦ của dân thì họ là những kẻ phản nghịch với đạo lý của Trời và vi phạm Luật Thiên Nhiên của Tạo Hóa. Và những con người độc tài đó cũng đã phản bội chống lại anh em của họ. Khi ấy họ vừa là tội đồ của Trời đất vừa là tội đồ của thế giới con người- vì luật của Trời đất đã nói rõ trong thời Cựu Ước và Tân Ước
-         Ngươi không được giết người.
-         Ngươi không được làm chứng dối
-         Ngươi không được gian dâm với vợ chồng người
-         Ngươi phải yêu anh em như chính mình …
Đây là LUẬT ĐẠO ĐỨC của Trời cao mà tất cả các chính giáo của nhân loại đều có chủ trương như thế - Phật giáo có Ngũ Giới và Thập Thiện, Cao Đài giáo co Ngũ Giới Cấm và Tứ Điều Quy- quan trọng nhất của Ngũ Giới là CẤM SÁT SANH. Bên cạnh đó, Phật Giáo Hòa Hảo còn có TỨ ÂN HIẾU NGHĨA để khuyên con người sống theo Luật
Trời và Đạo làm người . Vì lẽ đó, mà các dòng đạo học Đông phương thường nói:“Thuận với lòng Trời thì sống, nghịch với lòng Trời thì chết ”. Xưa Jean Jacques Rousseau thường than thở: “ Con người sinh ra trong Tự Do, nhưng con người bị xiềng xích khắp nơi “. Giờ đây con người Việt Nam thời đại tự thấy thêm là: “ Con người sinh ra đều bình đẳng tại sao con người lại sống triền miên trong xã hội bất bình đẳng ?” và đau đớn hơn “ Con người đều có quyền chia sẻ quyền làm chủ muôn vật trên trái đất, tại sao những con người độc tài lại đành tâm biến anh chị em của họ làm tôi mọi thấp hèn của nhau ?”
Trước những bi kịch nhân sinh não nề triền miên ấy, tiếng nói của khát vọng Tự Do, Bình Đẳng và Dân Chủ vang rền khắp năm châu bốn bể, và vang dội vào lương tâm và linh hồn của các quốc gia nghèo nàn và lạc hậu trong Thế Giới Đệ III, và dội vào trái tim và lương tri của muôn triệu con người đang sống quằn quại dưới xiềng xích gông cùm của độc tài chuyên chế, đang sống trong trầm luân tủi nhục, trong đói nghèo xơ xác và lạc hậu – trong đó có gần chín mươi triệu con người Việt Nam, hơn một tỉ người tại Hoa Lục và Bắc Hàn.
Càng đau khổ vì đói nghèo và bị áp chế thì khát vọng Tự Do Dân Chủ và Bình Đẳng càng dâng tràn trong những trái tim buồn bã và đắng cay của con người. Càng thất vọng ê chề vì quyền sống, quyền tự do bị tước đoạt thì những đóa hoa Tự Do Dân Chủ càng nở rộ trong trái tim con người, và điều đáng nói hơn cả là đứng trước những tham vọng và dục vọng vô độ của con người, đứng trước bạo lực mù quáng và súng đạn lạnh lùng độc ác của những nhà độc tài – con người đã không còn biết sợ hãi gì nữa, và vì thế máu của những kẻ đau khổ đã đổ ra lênh láng trên đường phố của Cario, Tunisia và Libya.
Mục đích muôn đời của các chế độ độc tài là tạo ra sự sợ hãi kinh hoàng triền miên trong đời sống xã hội con người . Khi con người đứng trước bạo lực, có lần nhà Cách Mạng Hoa Kỳ Patric Henry đã dõng dạc cất lên tiếng nói đầy thách đố: “Hãy cho tôi Tự Do hay cho tôi cái chết” ( Give me liberty or give me death). Khi ấy bạo lực của cường quyền sẽ bắt đầu run sợ trước khát vọng Tự Do Dân Chủ chân chính vô bờ của con người. Máu, nước mắt và mồ hôi đã đổ ra đầm đìa và bao thân người đã ngã xuống khắp nơi vì khát vọng Tự Do Dân Chủ và Bình Đẳng. Từ đó
cho thấy mấy chữ Tự Do Dân Chủ không thể là thứ Tự Do buông thả, bừa bãi và vô trách nhiệm. Và hai chữ Dân Chủ ấy cũng không thể đánh mất khả năng tự chủ, tự kiểm soát của mỗi người. Vì phần đông chưa có được ý thức về giá trị cao quý của Tự Do Dân Chủ- nên khi con người xô đổ được các căn nhà độc tài, xã hội thường rơi vào hỗn loạn và vô chính phủ thật nguy hiểm cho con người và đe dọa trật tự và ổn định trong xã hội. Căn nhà cũ của các chể độc tài là căn nhà mà mọi người chán ghét, ghê tởm và xa lánh. Vi thế, con người sẵn sàng đổ máu để phá hủy căn nhà đó bằng mọi giá, kể cả bằng  mạng sống cao quý của chính mình. Khi căn nhà cũ sụp đổ, vì thiếu sửa soạn và chuẩn bị, thiếu ý thức Cách Mạng Tự Do Dân Chủ và một cái nhìn dự phóng tương lai cho căn nhà mới. Nên phần đông nạn nhân của các chế độ độc tài, khi đứng trước đống gạch ngói tan hoang của căn nhà độc tài mà không biết- hay chưa biết- phải xây căn nhà mới ra sao, nhất là kiến trúc một căn nhà mang tên Tự Do Dân Chủ mà mọi người đang ôm ấp, ước mơ, kiếm tìm và tranh đấu bằng tất cả máu, nước mắt và mồ hôi…
Làm sao để xây dựng đây, nếu con người chưa ý thức giá trị nền tảng của LUẬT ĐẠO ĐỨC VÀ LUẬT THIÊN NHIÊN trong Trời đất? 

II. SỰ KẾ THỪA VÀ TIẾP NỐI VĂN MINH DÂN CHỦ CÒN DANG DỞ
Cách mạng là lột xác, là cải cách, cải tổ, và là thay đổi và chuyển hóa con người cũ trước khi thay đổi xã hội. Cách mạng phải được hướng dẫn và soi sáng bằng ngọn đèn ý thức cách mạng Tự Do Dân Chủ. Khởi đầu của cuộc cách mạng là tiến trình phá hủy, không chỉ căn nhà độc tài, mà là bản chất u ám, bệnh hoạn và mù quáng của những người đã xây nên những căn nhà độc tài hắc ám đó. Bản chất của con người ra  sao thì xã hội như thế. Nếu con người ích kỷ, tham lam, độc ác, tàn bạo và dối trá thì họ sẽ xây nên xã hội giống như thế. Đó là Luật Nhân Quả. Và nếu con người muốn xây nên một xã hội có trật tự và ổn định, hòa bình và
giàu có, thịnh vượng để con người sống trong hạnh phúc và thanh bình, an lạc bên nhau thì bản chất tham lam, ích kỷ, hẹp hòi, thành kiến, độc ác, dối trá phải được thay đổi và chuyển hóa, để xã hội có những con người không còn tham lam, không còn ích kỷ và không còn dối trá cũng như không còn vô minh nữa. Từ đó, họ trở thành những con người tự do, bình đẳng, đạo đức, nhân từ, can đảm biết yêu thương con người và yêu công lý. Đây là ý thức ĐẦU TIÊN và TRÊN HẾT của cách mạng Tự Do Dân Chủ. Cái mà mọi người gọi là Cách Mạng Hoa Lài đang diễn ra tại Tunisia, Ai Cập, Yemen và Libya đang trở thành ngọn lửa thiêng trong trái tim ưu phiền của muôn triệu con người. Cuộc cách mạng này quá quan trọng và cần thiết nhưng đó chỉ là một cuộc cách mạng đột biến- ở đó, con người vừa khởi đầu cách mạng bằng một tiến trình phá hủy, nhưng phá hủy mới chỉ nhắm vào những cơ cấu của xã hội hay cá nhân của những nhà độc tài, nghĩa là chỉ mới đụng chạm hời hợt bề mặt của những căn bệnh xã hội. Và tiến trình phá hủy ấy vẫn phải tiếp tục, tiếp tục PHÁ HỦY LIÊN TỤC, TRIỆT ĐỂ VÀ TOÀN DIỆN. Đó là tiến trình lột xác của những con người cũ để trở thành những con người mới của Tự Do Dân Chủ. Họ như một con rắn thay da để có một lớp da trẻ trung, tươi mát, mơn mởn như một thiếu nữ dậy thì hay như đóa hoa vừa chớm nở rực rỡ vào một buổi sáng tinh mơ trong vườn đầy cỏ non xanh mướt. Con người ngày nay phải sáng suốt và khôn ngoan nhận ra rằng, tất cả mọi cuộc cách mạng ồn ào đó đã xảy ra từ mấy thế kỷ nay, đều chỉ động chạm hời hợt đến những căn bệnh trầm kha của con người mà thôi. Ngọn lửa cách mạng và nhiệt tình của cách mạng đã nổi lửa đốt cháy hừng hực tất cả mọi thứ, nhưng các nhà cách mạng đã quên nổi lửa đốt cháy chính bản chất hắc ám vô minh đầy lầm lạc của con người. Đặc biệt là cuộc cách mạng Pháp vào năm 1789 và cách mạng Cộng sản vào năm 1917. Cả hai cuộc cách mạng đó đã làm đổ máu con người quá nhiều. Bạo lực và hận thù của cách mạng đã phá hủy tan hoang trật tự xã hội cũ và làm đổ máu quá nhiều người vô tội không cần thiết. Rồi sau đó, các nhà cách mạng đứng bơ phờ, ngơ ngác trên đống gạch ngói điêu tàn của xã hội. Trật tự xã hội cũ đã sụp đổ và các nhà cách mạng không biết làm thế nào để xây dựng nên trật tự mới, đành đứng nhìn xã hội rơi vào hỗn loạn và vô chính phủ- hay khác hơn như Cộng sản đã làm, là xây nên một thứ trật tự mới hoàn toàn dựa vào hận thù và bom đạn, để tạo nên một xã hội chỉ có sự sợ hãi, đói khát, đau khổ, đổ vỡ trong nhẫn nhục, câm nín và oán hờn. Vì thế, các cuộc cách mạng ấy dù đã vang dội khắp năm châu bốn bể, nhưng cách mạng đã thất bại và hoàn toàn bất lực trước bản chất u ám, vô minh đầy lầm lạc của con người.Thay đổi và chuyển hóa bản chất con người thì khó khăn vô cùng, nhưng xã hội không bao giờ và sẽ không bao giờ thay đổi, nếu bản chất con người không được thay đổi, chuyển hóa. Đây là sự thay đổi trên nền tảng cần phải có, cần được đặt ra và cân nhắc cẩn thận. Đúng như Krisnamurti đã dạy: chúng ta ra sao thì thế giới như thế. Thế giới mà con người xây dựng nên và con người chỉ là một. Cộng sản là những con người đi cổ xúy hận thù giai cấp bằng bạo lực cách mạng và dối trá. Trong thế giới đó con người đã có quá nhiều đau khổ, đổ vỡ và họ đã xây ra một xã hội đúng như thế, sự thật này quá hiển nhiên và đơn giản. Con người gieo nhân nào thì gặt quả ấy. Vì thế, sau tiến trình phá hủy là bước khởi đầu đầy nhiệt tình sôi bỏng của cách mạng. Khát vọng Tự Do Dân Chủ đang dâng tràn trước những chiến thắng bất ngờ đầy vẻ vang của đám đông, thường làm cho con người đánh rơi ý thức cách mạng, ý thức về Tự Do Dân Chủ và ý thức về những giá trị thiết yếu để biến lý tưởng Tự Do Dân Chủ thành cuộc sống đích thực, tốt đẹp và hạnh phúc cho mỗi người và cho toàn thể xã hội. Phải chăng bài học lịch sử về cách mạng Cộng sản quá cần thiết- bởi vì, đúng như tổng thống Nixon và tất cả chúng ta đều đã biết, những người Cộng sản Việt Nam đã chiến thắng trong chiến tranh Việt Nam và họ đã đem hòa bình lại cho Miền Nam Việt Nam và các nước ở Đông Dương- nhưng đó là “NỀN HÒA BÌNH TRONG NHỮNG NẤM MỒ” với bao triệu sinh linh đã gục chết thảm thiết trong nền hòa bình đó. Cách mạng Cộng sản hô hào giải phóng và họ đã tròng vào cổ ba nước Đông Dương bao xiềng xích nô lệ hãi hùng. Họ đã hứa xây nên một xã hội không còn cảnh người bóc lột người, và họ đã bóc lột tận xương tủy mọi người. Họ đã hứa và kêu gọi xây dựng thế giới đại đồng, và họ đã tạo nên một xã hội chỉ có xung đột và hận thù triền miên. Họ đã hứa với những người nghèo nàn và đói khát rằng sản xuất sẽ tràn ngập để con người sống hạnh phúc ấm no, và họ đã đẩy tất cả vào những cảnh đói khát ghê rợn chưa từng thấy. Họ đề cao đạo đức cách mạng và họ đã xây nên những chính quyền vô luân và bạc ác, tinh ma để hành hạ con người. Họ cổ xúy và kêu gọi toàn thế giới giúp họ tìm lại nền hòa bình cho Việt Nam và họ đã phát động chiến tranh và hận thù giai cấp triền miên trong lòng dân tộc khổ đau của họ khi chiến tranh đã hoàn toàn im tiếng súng.
Ngày nay, họ vẫn còn đó hay nhiều người trong họ đã vĩnh viễn nằm xuống với cỏ cây. Họ lưu lại gì trong lòng con người, va lưu lại gì trong lịch sử con người? Đó là những hậu quả lich sử của Cách Mạng Cộng Sản để lại, đó là một xã hội rất bệnh hoạn, bệ rạc,đổ vỡ và mù quáng, vì phần đông ngọn đèn lương tâm và trí tuệ của Quốc Gia đã lịm tắt hay mù mờ như những ánh lửa chập chờn trong đêm tối. Những con người của minh triết, những con người can đảm phi thường như những
kiếm sĩ ở đất Phù Tang, những con người bao dung độ lượng, những con người đức độ, những con người đi xây dựng và bảo vệ công lý, cũng như dân sinh của cả một dân tộc đã bỏ xã hội ấy ra đi, hay đã bị vùi dập tơi bời trong mưa bão của CÁCH MẠNG VÔ SẢN. Tại sao lại phí phạm tài nguyên nhân lực một cách mù quáng như thế?
 Xã hội Việt Nam bây giờ là một đống rác của lich sử- một đống rác quá thối tha, quá ghê tởm và nó cũng quá nhiều ung nhọt gây bệnh tật cho xã hội con người. Vì thế, những con người của thời đại phải là những biểu tượng của Tự Do Dân Chủ, họ không thể không ý thức được thực trạng căn bệnh trầm kha của xã hội ấy. Bởi cách mạng Cộng sản đã tự nhận họ là những kẻ vô thần, nên xã hội mà họ xây dựng nên là một xã hội liệt cảm, vô hồn, vô đạo và bệnh hoạn. Cũng bởi vì tất cả những giá trị TINH THẦN làm nên một xã hội sáng suốt, lành mạnh, trong sáng đầy sinh khí đã hoàn toàn sụp đổ và băng hoại tận nền tảng, thì xã hội làm gì còn sự sống chân thật và hạnh phúc nữa? Các nhà Cách Mạng  Tự Do Dân Chủ làm cách mạng để lật đổ các nhà độc tài đừng quên đống rác lịch sử mà các nhà độc tài sẽ để  lại cho xã hội, nhất là tại các quốc gia Cộng sản như Việt Nam, Hoa Lục và Bắc Hàn thì đống rác lịch sử ấy thật khủng khiếp. Trong tiến trình phá hủy, những con người của Tự Do Dân Chủ phải có khả năng dọn sạch đống rác lịch sử- một đống rác đã làm băng hoại hoàn toàn mọi nền tảng giá trị thiết yếu của tôn giáo, đạo đức và văn hóa của một xã hội hạnh phúc của con người. Đây mới thực sự là Ý NGHĨA SÂU THẲM CỦA CÁCH MẠNG TÂM LINH  và  TINH THẦN mà Moses, Đức Phật, Socrates, Plato, Aristotle, Cicero, Chúa Jesus, Luther, Calvin,  Olive Cromwell, các triết gia của thời Ánh Sáng như Hegel, Kant, Pascal, Jean Jacques Rousseau, Montesquier, cả nhà lập quốc Hoa Kỳ hay Gandhi và Krisnamurti … đều đã kế thừa và tiếp nối liên tục suốt 3500 năm nay. Hiện nay cuộc cách mạng đó vẫn đang dang dở (unfinished revolution). Phải chăng người dân Việt cũng đã được Trời chọn để cùng nhau kế thừa và tiếp nối cuộc cách mạng còn đang dang dở này?
Tất cả những nhân vật lịch sử siêu việt của văn minh nhân loại trên đều là những nhà cách mạng đúng nghĩa nhất, sâu thẳm nhất, minh triết nhất, nhân từ, độ lượng và bao dung nhất, đức độ nhất, đáng tôn kính nhất. Họ yêu thương và trìu mến con người nhất. Đó là những nhà cách mạng đã từ Trời mà xuống để sống giữa xã hội con người, để giúp nhân loại xây dựng và bảo vệ đạo đức và công lý cho xã hội con người từ bao ngàn năm qua. Những con người bằng xương,bằng thịt này đã đến để gieo xuống trái tim nhân loại những hạt giống kỳ diệu nhất của CÁCH MẠNG TÂM THỨC, CÁCH MẠNG TINH THẦN và CÁCH MẠNG TÂM LINH của tất cả nhân loại. Tất cả đều dạy rằng: “con người phải thay đổi và chuyển hóa TÂM HỒN, TRÍ TUỆ, và BẢN CHẤT của mọi người trước khi muốn nhìn thấy xã hội thực sự thay đổi tốt  đẹp. CHUYỂN HÓA và THAY ĐỔI theo QUI LUẬT CỦA TỰ NHIÊN để con người có thể TIẾN HÓA và THĂNG HOA đời sống của họ. Các nhà Cách Mạng Tự Do Dân Chủ (revolutionaries of democratic revolution of liberal democracy ) của thời hậu CS phải thấy rõ sự phá sản toàn diện về những giá trị tinh thần của con người khắp nơi từ mấy thế kỷ qua. Và chính vi thế, đã làm cho con người không còn đủ sức mạnh và võ khí để chống đỡ, ngăn chặn và vượt qua những thử thách kinh hoàng, khi phải đối đầu và tương tranh với sức mạnh đầy bạo lực, của những lực lượng nắm quyền lực chính trị bá đạo và vô thần tại các Quốc Gia Đệ III nghèo khó và lạc hậu. Vì đã đánh mất sức mạnh tinh thần và quyền năng của đạo đức, nên con người mới trở thành nạn nhân bi thảm của cường quyền và bạo lực chính trị bá đạo. Bên cạnh sự thất bại của hai cuộc cách mạng Pháp và cách mạng cộng sản, nhân loại còn thấy cuộc cách mạng của nước Anh (1640), cách mang Hoa Kỳ (1776), cách mạng của Nhật (1945), và cuộc cách mạng của Ấn Độ (1947) đều đã thành công vĩ đại. Bốn cuộc Cách Mạng Tự Do Dân Chủ ấy đã trải qua hai giai đoạn: giai đoạn phá hủy và giai đoạn xây dựng Quốc Gia. Sau khi Nhật đầu hàng năm 1945, tướng Mac Arthur đã đến để giúp đỡ và hướng dẫn Nhật Bản làm cuộc Cách Mạng Dân Chủ Đáy Tầng. Và sau khi Ấn Độ giành được độc lâp từ tay đế quốc Anh, thì cuộc Cách Mạng Dân Chủ cũng diễn ra tại đây. Cả hai quốc gia này đều đã bảo vệ và phát huy ba GIÁ TRỊ TINH THẦN nền tảng của Quốc Gia để đi vào cuộc Cách Mang Dân Chủ xây dựng Quốc Gia. Ba giá trị đó như sau:
-         Giá trị TÔN GIÁO
-         Giá trị ĐẠO ĐỨC
-         Giá trị VĂN HÓA

 Tôn giao là linh hồn và ánh sáng của văn hóa. Tôn giáo đưa đến giá trị đạo đức và tinh thần cho văn hóa. Nhờ văn hóa, tôn giáo đã ĐEM ĐẠO VÀO ĐỜI. Đem đạo vào đời là đem đạo đức vào đời, đem tình thương, đem tự do và bình đẳng, cũng như đem công lý vào đời để xây dựng trật tự pháp lý, trật tự chính trị và trật tự xã hội. Hai cuộc cách mạng tại Anh và Mỹ cũng đều là cuộc Cách Mạng Dân Chủ Đáy Tầng- đó là hai cuộc cách mạng cũng đem đạo vào đời, bởi vì hai cuộc cách mạng này đều bước theo ánh sáng dẫn đường của Moses, của Chúa Jesus cũng như của
Luther và Calvin để khai triển và phát huy tối đa ba giá trị nền tảng là giá trị tôn giáo, giá trị đạo đức và giá trị văn hóa. Đây là cuộc cách mạng mà chúng ta sẽ kế thừa và nối tiếp tại Việt Nam, Hoa Lục và Á Châu để xây dựng trật tự, ổn định và hòa bình, thịnh vượng cho cả vùng Đông Nam Á.  

III. CHÍN MỤC TIÊU CỦA NỀN DÂN CHỦ ĐÁY TẦNG 
Cách Mạng Dân Chủ Đáy Tầng được hổ trợ và trang bị những giá trị tinh thần tuyệt vời của CẢI CÁCH TÔN GIÁO do Luther và Calvin thực hiện, để tạo nên một trào lưu văn hóa ĐEM ĐẠO VÀO ĐỜI  trong các làn sóng Cách Mạng Tự Do Dân Chủ trên toàn thế giới từ mấy thế kỷ qua. Lịch sử luôn luôn là những bậc thầy vĩ đại nhất bởi vì lịch sử đem đến cho con người những kinh nghiệm đầy máu và nước mắt của những người đi trước. Họ đã lưu lại những bài học thật cao quý hay để lại những vết xe đổ đầy lầm lạc đã xảy ra trong quá khứ. Những nhiệt tình nóng bỏng và can trường của những con người dấn thân vào tranh đấu để lật đổ các chế  độc tài là điều ắt phải có- nhưng muốn có đủ thì phải có những HIỂU BIẾT CHÂN CHÍNH ( true understanding) và những KIẾN THỨC CẦN THIẾT, để biết cái gì cần phá hủy và cái gì cần xây dựng. Đặc biệt là bản chất u ám đầy lầm lạc của con người, nếu chưa có thể thay đổi chuyển hóa trong một đêm- thì cũng phải có luật pháp kiểm soát và khắc chế thứ bản chất đầy tính cách phá hoại này. Nếu không làm như thế, cách mạng sẽ bị phản bội, hay xôi hỏng bỏng không, khi không có ai chịu chú tâm đến sự nguy hiểm tiềm tàng nơi bản chất dễ sa ngã và dễ biến chất của con người, khi họ không có khả năng chống lại mọi cám dỗ của vật chất và quyền lực thì xã hội dễ rơi vào tình trạng hỗn loạn. Con người đã từng sống đau khổ trong các chế độ độc tài; vì sự đau khổ ấy con người đã đứng lên lật đổ các nhà độc tài để đòi lại quyền sống, quyền Tự Do và Dân Chủ. Muốn có Tự Do Dân Chủ, con người mới phải có khả năng xây dựng một môi trường văn hóa trong sáng và lành mạnh- vốn đã từng bị bản chất hắc ám, vô minh đầy lầm lạc của con người cũ làm cho bị ô nhiễm trầm trọng. Chính môi trường văn hóa này đã dìm chết và làm băng hoại những giá trị nhân bản cao quý của con người- vì thế, để cứu vãn những giá trị đó, môi trường văn hóa mới phải chú tâm tới HƯỚNG THƯỢNG VÀ HƯỚNG THA. Hướng thượng để học hỏi nơi các giáo luật của các chính giáo để xây dựng đời sống tinh thần, đạo đức, tình thương và công lý. Hướng tha để phát huy và thực hành Ý THỨC XÃ HỘI- là hướng về tha nhân, hướng về anh em đồng loại như những con người Tự Do và Bình Đẳng để xây dựng mối tương quan và hợp tác xã hội (social relationship and social-co-operation), chú trọng vào sự tương thân tương ái, chia sẻ niềm vui nỗi buồn, chia sẻ quyền hành và trách nhiệm, giúp đỡ lẫn nhau, bổ túc cho nhau, nương tựa và kề vai sát cánh bên nhau để cùng sống với nhau, vì nhau và cho nhau. Xã hội cũ là một xã hội bệnh hoạn và tăm tối, chia rẽ và đau khổ; đó là môi trường xã hội thuận tiện cho bản chất u ám, đê tiện, tham lam, gian dối, bất lương, độc ác, ghen tuông, đố kỵ, hẹp hòi, thiển cận và thành kiến phát triển và tung hoành, như trong khu rừng hoang đầy thú dữ. Đó là môi trường văn hóa thuận tiện cho các chế độ độc tài xuất hiện, vì xã hội cũ thiếu không chỉ một hệ thống luật pháp công minh và nghiêm minh, mà còn thiếu cả một môi trường văn hóa trong sáng và lành mạnh để soi sáng, uốn nắn và nhào nặn tâm hồn, trí tuệ và bản chất cho con người- nếu xã hội muốn có những nhà lãnh đạo chân chính để đem hạnh phúc đến cho toàn dân. Những con người mới Tự Do Dân Chủ phải thấy được và phải ngăn chặn được những hiểm họa đó, nếu không từ chế độ độc tài này sẽ dẫn đến chế độ độc tài khác mà không làm sao tránh được cảnh tránh vỏ dưa lại gặp vỏ dừa. Bên cạnh đó, phải nhận ra những quan niệm về tôn giáo, văn hóa, luật pháp, chính trị, xã hội và kinh tế của xã hội cũ đầy sai lầm- với tất cả những thành kiến hẹp hòi- cũng phải là mục tiêu chính mà tiến trình phá hủy của cách mạng phải nhắm tới để phá hủy triệt để và toàn diện. Để làm gì hay chỉ để những bản chất trong sáng và tốt lành của bao người khác có điều kiện và cơ hội để vươn lên trong một xã hội của những con người Tự Do, Bình Đẳng, Đạo Đức mà cách mạng muốn xây dựng. Nếu tất cả những gai góc và sỏi đá trong khu vườn văn hóa đó không được dọn sạch đi, thì không có hạt mầm cách mạng nào gieo xuống có thể nảy mầm và đơm hoa kết trái được. Người xưa thường khuyên con người phải khuyến thiện, trừng áclà vì thế. Trong khi ấy tại các quốc gia cộng sản những con người cộng sản đã hành động hoàn toàn trái ngược, nghĩa là họ đã khuyến ác, trừng thiện . Cách mạng cộng sản đã thất bại thê thảm, vì lẽ hoàn toàn bất lực trước bản chất u ám đầy lầm lạc của con người nắm giữ quyền hành trong xã hội và cuối cùng trở thành một cuộc cách mạng đầy thảm họa cho chính họ và cho bao quốc gia khác. Họ đã thất bại, bất lực và trở thành thảm họa- vì sao vậy, vì những quan niệm cách mạng của họ quá hẹp hòi, thiển cận nên chỉ thấy lầm lạc và sa đọa. Và vì họ quá non nớt, ngây thơ và khờ dại trước bản chất u ám của con người, nên cách mạng cộng sản bị phản bội hay tự phản bội chính mình vậy. Hậu quả thê thảm của cách mạng cộng sản để lại,  đã dạy cho chúng ta một bài học- đó là, những con người cộng sản muốn thay đổi xã hội, thay đổi toàn diện và triệt để nhưng họ chưa biết hay không biết sự quan trọng để thay đổi và chuyển hóa bản chất con người. Chính vì thế mà bản chất u ám và lầm lạc của các nhà cách mạng cộng sản đã chồm lên để phá hoại, vùi dập và thủ tiêu trọn vẹn giấc mơ đại đồng của họ.Tất cả những kẻ nào khuyến ác trừng thiện sẽ gặt lấy quả mà họ gieo nhân xuống.
Trong khi ấy, tiến trình xây dựng cách mạng Tự Do Dân Chủ là tiến trình khuyến thiện trừng ác với một nền văn hóa nhân bản nhất và đầy đủ giá trị cần thiết nhất, để xây nên những xã hội TỰ DO, BÌNH ĐẲNG, ĐẠO ĐỨC VÀ CÔNG LÝ với ba giá trị nền tảng là TÔN GIÁO, ĐẠO ĐỨC VÀ VĂN HÓA. Vì thế, tiến trình phá hủy và xây dựng của cách mạng Tự Do Dân Chủ cần nhấn mạnh đến những điểm sau đây:
1. Ý thức về thực trạng xã hội với những căn bệnh trầm kha của xã hội cũ mà các chế độ độc tài đã để lại.
2. Ý thức mới trong chế độ Tự Do Dân Chủ và một hệ thống giá trị vững chắc để xây dựng xã hội cho những con người Tự Do Bình Đẳng.
3. Phải tạo ra một môi trường văn hóa trong sáng và lành mạnh để hướng dẫn quần chúng , để nâng dân trí lên với những giá trị của tôn giáo, luật pháp, chính trị, xã hội của nền văn hóa Dân Chủ.
4. Phải nắm vững các lý thuyết chính trị, triết lý hay đạo lý chính trị để có ánh sáng dẫn đường cho cách mạng Tự Do Dân Chủ.
5. Đề cao và làm thật sáng tỏ giá trị của Dân Chủ Đáy Tầng với những nguyên tắc căn bản của Hiến Pháp Dân Chủ, để toàn dân chuẩn bị viết Hiến Pháp cho Quốc Gia, để hướng dẫn xây dựng trật tự chính trị và trật tự xã hội.
6. Xây dựng xã hội dân sự và đặt nền móng cho mối tương quan xã hội và hợp tác xã hội giữa dân và dân, giữa dân và chính quyền .
7. Xây dựng hệ thống luật pháp để bảo vệ trật tự cho xã hội.
8. Xây dựng xã hội chính trị và xây dụng các hệ thống chính quyền của địa phương bao gồm Làng, Xã, Quận, Tỉnh để CƠ CẤU HÓA, CHÍNH THỐNG HÓA và LUẬT PHÁP HÓA quyền làm chủ đất nước và quyền tối thượng của toàn dân bằng bản Hiến Pháp Quốc Gia và những bản Hiến Pháp hay Hiến Chương của mỗi địa phương.
9.Xây dựng chính quyền Quốc Gia trên bốn nguyên tắc:
a. Một chính quyền đại diện cho dân (Representative Government )
b. Tam quyền phân lập độc lập với nhau, nhưng có quyền kiểm soát và chế tài lẫn nhau, để giữ thăng bằng quyền lực Quốc Gia và bảo đảm không có sự vi phạm Hiến Pháp Quốc Gia.
c. Giới hạn quyền hành của chính quyền Quốc Gia tại Trung Ương càng nhiều càng tốt.
d. Tất cả cứu cánh tối hậu của chính quyền là đem hạnh phúc đến cho toàn dân .
Vì tất cả quyền hành tối hậu của Quốc Gia đều thuộc về toàn dân nên chính quyền chỉ là những người phục vụ dân mà thôi. Đây là cuộc cách mạng Dân Chủ Đáy Tầng ( Grass Roots Democracy ) chắc chắn sẽ xảy ra tại Việt Nam, Hoa Lục, Bắc Hàn và các nước Á Châu trong những ngày tháng sắp tới. Phần đông các Quốc Gia kể cả các học giả chính trị thường chỉ đề cập đến chế độ Dân Chủ Tự Do (Liberal Democracy), Dân Chủ Xã Hội (Socialist Democracy) và Dân Chủ Nghị Viện (Parliament Democracy). Nhưng rất ít học giả kể cả học giả Âu Châu, Đông Âu kể cả Nga sô không mấy ai chú ý đến nền Dân Chủ Đáy Tầng mà Hoa Kỳ đã khai sinh ra từ cuộc cách mạng Hoa Kỳ năm 1776.Vì thế, Dân Chủ Đáy Tầng là một khám phá mới sau nhiều năm học hỏi và nghiên cứu về nguồn gốc, sự hình thành và phát triển qua gần 3500 năm của nền văn minh dân chủ Thế Giới, được Hoa Kỳ tổng hợp lại để khai sinh ra nền Dân Chủ Cộng Hòa cho chính mình và cho tất cả nhân loại. Các nhà lập quốc Hoa Kỳ (The Founding Fathers) đã đưa ra được những giải pháp cho những vấn nạn chính trị và kinh tế của một thế giới đang bị tàn phá tan hoang vì tranh chấp , thù hận và chiến tranh triền miên. 

IV. PHẢI CHĂNG BÀN TAY VÔ HÌNH CỦA ĐẤNG TẠO HÓA ĐANG HƯỚNG DẪN LỊCH SỬ VĂN MINH TINH THẦN CỦA NHÂN LOẠI
 Theo nhận định của W Cleon Skousen thì có ba điều tất cả nhân loại đang tìm kiếm như sau:
1. Tất cả nhân loại đang tìm kiếm TỰ DO cho chính mình và cho Quốc Gia của mình.
2. Tất cả nhân loại đang tìm kiếm SỰ GIÀU CÓ VÀ SỰ PHỒN VINH cho riêng mình và cho Quốc Gia của mình.
3. Tất cả nhân loại đang tìm kiếm HÒA BÌNH và những phương tiện để thoát khỏi những đau đớn, đổ vỡ do chiến tranh đầy tính cách hủy diệt gây ra. Cũng theo Skousen, để đạt đến ba khát vọng chân chính lớn lao đó, người dân Hoa Kỳ đã bước theo ánh sáng dẫn đường của cuốn Kinh Thánh.  Bản Tuyên Ngôn Độc Lập viết ra năm 1776 và bản Hiến Pháp được 13 tiểu bang cùng nhau soạn ra vào năm 1787 cùng với Dự Luật Nhân Quyền (The Bill of Rights) đưa ra sau cuộc cách mạng tại Anh bởi nhóm người Puritan vào năm 1689, sau đó trở thành căn bản cho Bản Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền của Liên Hiệp Quốc. Điều khiến tôi ngạc nhiên đến kinh ngạc là tất cả nhân loại từ Đông phương qua Tây phương, khi bước vào thời Phục Hưng sau đó bước vào thời Hiện Đại- phần lớn văn minh, văn hóa của nhân loại đã bị cắt lìa với các truyền thống đạo lý cổ xưa- nhìn ngược lại Hoa Kỳ- một Quốc Gia trẻ trung nhất Thế Giới, lại là chiếc cầu nối kết chặt chẽ giữa những giá trị của thời Cổ Đại với những giá trị của thời Hiện Đại. Một thời đại mà phần đông nhân loại chỉ biết tôn vinh và thờ phụng những giá trị của khoa học và vật chất, mà quay mặt với tất cả giá trị tâm linh và tinh thần khiến cho văn minh tinh thần (spiritual  civilization) của cả Đông phương và Tây phương đều rơi vào tình trạng phá sản tận gốc rễ, và xô đẩy cả nhân loại vào một thời kỳ, mà Phật Giáo gọi là THỜI KỲ MẠT PHÁP (The age of decadence of Divine Spirituality) nghĩa là nhân loại phần đông không còn đời sống Tâm Linh và Tinh Thần, không còn đức tin vào Thượng Đế hay Đấng Tạo Hóa và chối bỏ cả những giá trị siêu nhiên.
 Ngày nay nhìn lại nguồn gốc và sự hình thành của nền Văn Minh Dân Chủ chúng ta bỗng nhận ra, hạt mầm Dân Chủ và Cộng Hòa đã xuất hiện vào thời Moses tại Do Thái cách đây 3500 năm. Sau đó đến Hy Lạp cũng có nền Cộng Hòa của Plato trên 2000 năm, và nền Cộng Hòa của La Mã cũng đã có trên 2000 năm. Vào thời trước Trung Cổ và sau đó nền Văn Minh Dân Chủ có thêm sự đóng góp của Giáo Hội La Mã
với Thánh Augustine, sau ông là Thánh Thomas Aquinas. Đến đầu thế kỷ XVI thì có thêm Luther và Calvin đã đưa ra thêm một cải cách tôn giáo vĩ đại để khai sinh ra các dòng tư tưởng xã hội và trở thành nền móng cho cách mạng Anh 1642 và cách mạng Hoa Kỳ 1776, cả hai đều là cuộc Cách Mạng Dân Chủ Đáy Tầng. Trên 60 năm qua, nền Dân Chủ này đã truyền tới 111 Quốc Gia, và làn sóng này đang tiếp tục lan tràn tới Tunisia, Ai Cập, Libya, Yemen…Rồi đây làn sóng Tự Do Dân Chủ này  sẽ lan tràn vào Việt Nam, Hoa Lục, Bắc Hàn và các nước Á Châu, để cuốn phăng đi tất cả những xiềng xích nô lệ của các chế độ độc tài đang tròng vào cổ con người, để trả con người về với TỰ DO, quyền BÌNH ĐẲNG và quyền LÀM CHỦ đất nước của người dân.
Nhìn vào sự vĩ đại của nền văn minh Dân Chủ với chiều dài hình thành và phát triển gần 3500 năm liên tục, có mấy ai hiểu được rằng bàn tay vô hình mầu nhiệm và đầy quyền năng của Đấng Tạo Hóa vẫn soi sáng, trợ giúp, lèo lái và hướng dẫn lịch sử văn minh tinh thần của nhân loại. Trời vô hình và trời có nói gì đâu, nhưng Trời vẫn đến với con người qua các bậc Giáo Chủ của các chính giáo, các Tiên Tri, các bậc Thánh Nhân, các nhà Hiền Triết, các Triết Gia, các Tu Sĩ, và các nhà tư tưởng của các chính giáo –cũng  như các nhà Văn Hóa, Luật Gia, Sử Gia thiên tài, chân chính của các thời đại. Họ đều đã được Trời Mặc Khải và truyền Ánh Sáng Giác Ngộ cho những bậc vĩ nhân đó, để họ đem tiếng nói của đạo lý, sự thật và sự sống của Tạo Hóa đến cho muôn người và cho các Quốc Gia trên tòan Thế giới. Người ta có thể phủ nhận, khước từ hay quay mặt với Trời đất, Thiên Chúa hay Đấng Tạo Hóa vì đặc tính siêu nhiên , vô hình, vô ảnh, vô thanh của Đấng Tạo Hóa, nhưng không ai có thể phủ nhận được đời sống tinh thần siêu việt của những nhân vật lịch sử chói sáng, đã đến và đã sống bên con người, và làm thành lịch sử của văn minh tinh thần của nhân loại. Nếu không có những con người đó và không có những ánh sáng tinh thần và ánh sáng giác ngộ đó, chắc chắn lịch sử và số kiếp của nhân loại còn đau khổ và tăm tối vô cùng. Cũng như không có ánh sáng tinh thần và ánh sáng giác ngộ đó, thì làm sao nhân loại có được văn minh tinh thần và văn minh dân chủ như ngày hôm nay.
 Lịch sử của mỗi Quốc Gia, hay lịch sử của tất cả nhân loại, chỉ có một lựa chọn duy nhất: hoặc là để cho tham vọng và dục vọng mù quáng của chính trị và kinh tế tiếp tục hướng dẫn và thống trị- hay để cho những con người có đời sống TINH THẦN thanh cao, vững chãi trong thế giới chính trị và kinh tế- để hướng dẫn người dân tự cai trị lấy chính mình trong những xã hội Tự Do Dân Chủ, đó là thực tế mà chúng ta có thể tìm thấy nơi các nhà LẬP QUỐC HOA KỲ (The founding Fathers). Họ muốn giúp dân và muốn đóng góp một mô thức chính trị và kinh tế chân chính nhất cho toàn thể nhân loại, các nhà lập quốc Hoa Kỳ đã bỏ ra 180 năm để cùng nhau học hỏi, nghiên cứu và khảo sát tất cả các lý thuyết chính trị trên toàn thế giới, từ Thời Cổ Đại, qua Thời Trung Cổ, rồi đến Thời Hiện Đại để rút tỉa tất cả kinh nghiệm thực tiễn nhất trong lịch sử văn minh chính trị (Political Civilization) và văn minh tinh thần, cũng như các chế độ chính trị khác nhau trên toàn thế giới. Để rồi sau đó, xây nên một quốc gia Cộng Hòa Dân Chủ vững mạnh nhất và phát triển mạnh nhất, mà con người chưa từng thấy trong lịch sử chính trị thế giới. Vì thế, nền  Dân Chủ của Hoa Kỳ là một Tập Đại Thành của tất cả văn minh chính trị của thế giới từ thượng cổ đến hôm nay. Đây là một sự thành tựu của nền văn minh chính trị toàn cầu. Do đó, ý thức dân chủ đầu tiên là ý thức về giá trị vĩ đại của văn minh dân chủ và giá trị lịch sử, cũng như một hệ thống giá trị gồm ba đặc tính:
-         Thực dụng (Pragmatic)
-         Thực tế (Realistic)
-         Lý tưởng (Idealistic )
Muốn được sống trong chế độ Tự Do Dân Chủ chân chính, con người phải có ý thức vững chắc về quyền tự do và quyền bình đẳng chỉ được bảo đảm khi giá trị đạo đức và giá trị công lý được bảo đảm. Giá trị cao quý nhất của tự do là tự do lương tâm (Freedom of Conscience ). Bởi vì khi con người không có ý thức được giá trị cao quý của tự do, không có trách nhiệm và bổn phận với tự do, nghĩa là không có ý thức về trách vụ đạo đức (Moral obligation) và trách vụ pháp lý (Legal obligation) của tự do. Tự do mà không biết tôn trọng tự do của người khác, không có khả năng tự kiểm soát chính mình ( self control), nhất là vi phạm và gây tổn
hại tự do của người khác cũng như trật tự và ổn định của xã hội. Dân chủ là quyền làm chủ đời mình và làm chủ Quốc Gia của mình. Vì thế, không chỉ có quyền tối thượng của Quốc Gia thuộc về toàn dân, mà tất cả quyền hành của Quốc Gia cũng thuộc về toàn dân. Dân có toàn quyền quyết định trao quyền cho ai đại diện cho họ, hay có quyền lấy lại quyền hành đó khi người đại diện cho dân tỏ ra bất xứng.
QUYỀN TỐI THƯỢNG LÀ QUYỀN VIẾT HIẾN PHÁP VÀ QUYỀN LÀM LUẬT  CHO QUỐC GIA.
Đạo đức và công lý là cứu cánh của luật pháp. Xã hội chính trị và quyền hành chính trị là thi hành hiến pháp, tức thực thi đạo đức và công lý trong đời sống xã hội và đời sống Quốc Gia. Muốn thực sự làm chủ đất nước, người dân phải tự mình xây nên chính quyền của dân, do dân, và vì dân. Đó là trách vụ đầu tiên và trên hết của những người làm chủ đất nước của mình. Cứu cánh tối hậu của chính quyền là hạnh phúc chung của toàn thể xã hội (common good). Giá trị cần thiết nhất của dân chủ là  khả năng Tự Chủ, Tự Lực, Tự Cường, tự đốt đuốc lên mà đi.
Muốn xây dựng một xã hội trật tự, ổn định, thanh bình, an lạc và hạnh phúc thì phải theo Trời mà sống và theo chân tâm mà xử thế và hành động; đó là lời dạy của các dòng đạo lý cổ xưa. Muốn được như thế thì luật pháp quốc gia phải sử dụng bốn loại luật như sau:
 -        Luật siêu nhiên của Tạo Hóa
-         Luật thiên nhiên của Trời Đất
-         Giáo luật của các chính giáo
-         Luật đã ghi khắc trong lương tâm con người.
Tất cả các luật lệ đó sẽ xây dựng nên trật tự pháp lý và trật tự chính trị, cũng như trật tự xã hội của con người. Nhờ sống theo những luật lệ đó, chắc chắn quốc gia và xã hội sẽ sản sinh được rất nhiều những con người minh triết, những con người can đảm phi thường, những conngười có đạo đức và nhân từ độ lượng, cũng như những con người biết yêu thương con người và yêu thương công lý. Đó là phẩm hạnh và đặc tính cao quý của những con người, mà chính họ là hiện thân của những viên gạch vững chắc nhất, để làm thành nền móng của một quốc gia Cộng Hòa và Dân Chủ chân chính nhất. Bởi vì chế độ Tự Do Dân Chủ là một lý tưởng cao đẹp của chính trị Vương Đạo (idealism) nên nó thuận với lòng Trời và thuận lòng người.Tự Do Dân Chủ cao đẹp và lý tưởng,   vì nó có ba đặc tính: Thực dụng, thực tế và lý tưởng để giúp cho con người sống, tồn tại, tiến hóa và thăng hoa. Bởi vì, nếu con người chỉ biết sống thực dụng, thực tế mà không có lý tưởng, thì làm sao họ tìm được cơ hội để tiến hóa và thăng hoa? Muốn tiến hóa và thăng hoa đời sống thì bắt buộc phải có lý tưởng và tim kiếm sự thăng bằng giữa ba giá trị, đó là
thực dụng, thực tế và lý tưởng. Phải chăng đó là tất cả ý định của Đấng Tạo Hóa với bàn tay vô hình, mầu nhiệm và đầy quyền năng đang soi sáng và hướng dẫn lịch sử văn minh tinh thần của nhân loại, để con cái của Đấng Tạo Hóa vừa đạt được Cứu Cánh Tạm Thời khi sống trên trần gian, cũng như đạt được Cứu Cánh Tối Hậu khi con người rời bỏ trần gian, để về lại với đời sống vĩnh cửu và về lại với “Thiên Thu của nước Trời?”  

V. TẠI SAO HẠT GIỐNG DÂN CHỦ CHƯA NẢY MẦM ĐƯỢC TẠI Á CHÂU?
 Đời sống con người dưới trần gian có những nhu cầu thực tế cần phải giải quyết như cơm ăn, áo mặc và nhà cửa. Muốn giải quyết những cứu cánh tạm thời đó, đường lối của quốc gia đòi hỏi phải rất thực dụng và thực tế. Nhưng nếu con người đánh mất lý  tưởng của đời sống, thì con người đánh mất luôn cơ hội để tiến hóa và thăng hoa đời sống. Chính vì lẽ đó, đời sống của mỗi con người và đời sống của Quốc Gia phải bảo vệ được ba giá trị là thực dụng, thực tế và lý tưởng. Lý tưởng Tự Do Dân Chủ mà tất cả nhân loại đang khao khát, đang mơ ước, đang đứng lên
tranh đấu và sẵn sàng tử đạo vì niềm khao khát Tự Do đang dâng tràn. Tại sao vậy? Tại vì chế độ Tự Do Dân Chủ biết tôn trọng giá trị cao quý của con người, tôn trọng quyền sống, quyền tự do dân sự, và tự do chính trị của tất cả người dân. Vì thế, con người không thể thiếu ý thức Dân Chủ và ý thức Tự Do, cũng như những giá trị vô cùng cao đẹp của chủ nghĩa chính trị Vương Đạo này. Đây là lý tưởng chính trị mà chinh đức Khổng Tử và các Nho Sĩ chân chính đã mơ về mấy ngàn năm qua mà chưa biết làm thế nào để thực hiện cho Trung Hoa và các dân tộc Đông
Phương. Theo nhận định của Samuel Huntington thì Đông phương đang có những khuyết điểm chết người, ở đó có nhiều Quốc Gia muốn bám vào những giá trị cũ để sống trong đau khổ, nghèo đói, mất hết Tự Do và nhục nhã. Vì thế, vấn đề thay đổi không thể nào tránh được. Samuel Huntington còn khuyên Hoa Lục nên từ bỏ ảo tưởng bành trướng và thống trị các nước lân bang. Phải chăng cảnh cáo ảo tưởng bành trướng và thống trị các nước lân bang đã phản ảnh cái khuyết điểm chết người của văn minh Trung Hoa? Đó là thứ văn hóa của cường quyền và bạo lực mà những người cộng sản Hoa Lục đã kế thừa và tiếp nối từ tinh thần của Tần Nho, Hán Nho và Tống Nho, để khai sinh ra thứ “trật tự quân- thần” (monarchy- mandrin order) và “đạo vua-tôi” (emperor worship). Đây là thứ trá hình liên tục của văn minh bái vật (Idolatrous civilization) tức tôn thờ ngẫu tượng mà Đấng Tạo Hóa đã cảnh cáo con người trong Luật Giao Ước (Ten commandments) đã được ký kết giữa con người và Người Cha chung của nhân loại vào thời Cựu Ước. Trong luật Giao Ước ấy tóm lại chỉ còn hai điều: HƯỚNG THƯỢNG để thờ lạy Thượng Đế hết lòng, hết linh hồn, hết trí tuệ và hết sức mình, và điều thứ hai là HƯỚNG THA để yêu thương anh em đồng loại như chính mình.
Trên tinh thần hướng thượng và hướng tha ấy, các dòng đạo học Đông Phương cũng khuyên con người rằng: “Thuận Thiên giả tồn. Nghịch Thiên giả vong”. Đạo lý nguyên thủy của người Việt Nam cũng theo ĐẠO THỜ TRỜI và ĐẠO LÀM NGƯỜI, cũng chủ trương hướng thượng và hướng tha. Nhưng dòng đạo lý của tổ tiên Đất Việt đã bị nền văn hóa bái vật của Trung Hoa vây hãm, khống chế và làm cho dòng đạo lý nguyên thủy ấy tàn tạ và suy vong cho đến ngày nay (2011). Làm văn hóa mà lầm là giết muôn ngàn thế hệ là một thực tế lịch sử của văn hóa Việt Nam và Đông Phương từ hơn 2000 năm qua. Thay vì THỜ TRỜI và hoàn tất ĐẠO LÀM NGƯỜI, văn minh bái vật Trung Hoa qua các triều đại đã dựng nên- ở đó, con người đã “ bỏ trời” để “ thờ vua” và thay vì chu toàn đạo làm người, con người đã quay qua để tôn thờ ngẫu tượng, tức tôn thờ của cải vật chất và quyền uy của nhân thế, để từ đó khai sinh ra chủ nghĩa chính trị Bá Đạo mà Cộng Sản Hoa Lục đang kế thừa, tiếp nối phải chăng đó chính là cái mà Samuel Huntington đã cho rằng đấy là khuyết điểm chết người ở Đông Phương. Từ thực trạng và thực tế đó, cho thấy tất cả lý do tại sao hạt mầm Tự Do Dân Chủ đã đơm hoa kết trái thật tốt tươi tại Nhật và Ấn Độ, mà không thể nào nảy mầm được tại Việt Nam, Hoa Lục, Bắc Hàn và các Quốc Gia khác tại Đông Nam Á. Cũng từ nền văn minh, văn hóa lạc đạo đó, nó đưa đến những hậu quả lịch sử tai hại không sao lường được trong xã hội con người- đó là:
1. Nền văn hóa lạc hậu.
2. Hệ thống chính trị bá đạo, quan liêu phong kiến với chủ trương sử dụng cường quyền và bạo lực để nô lệ hóa con người. Chính trị bá đạo không biết tôn trọng giá trị cao quý của con người, cũng như không biết tôn trọng quyền sống, quyền tự do và quyền tìm kiếm hạnh phúc của người dân.
3. Hệ thống luật pháp rất rừng rú, cũng như rất bất minh và bất công vì nó đi ngược lại với luật Trời, luật Thiên Nhiên và luật đã ghi khắc trong lương tâm của con người.
4. Tâm hồn và trí tuệ của tầng lớp trí thức hay Nho sĩ không thể nào phát triển được, khi đi vào Tây Phương hóa và hiện đại hóa, vì họ bị vây hãm bởi nền văn hóa lạc đạo.
5. Dân trí rất thấp vì chủ trương ngu dân của tầng lớp thống trị bá đạo xưa cũng như ngày nay.
 Đây là năm khuyết điểm chết người mà Samuel Huntington chưa xác định được rõ ràng. Ngày nay, trước ý thức Tự Do và trước ý thức Dân Chủ, cũng như trước những dòng tư tưởng mới của thời đại văn minh dân chủ và một hệ thống giá trị nền tảng của chế độ Tự Do Dân Chủ, những con người của THỜI ĐẠI DÂN CHỦ HÓA TOÀN CẦU phải có khả năng vứt bỏ năm khuyết điểm chết người đó, để cho mẫu người của lý tưởng Tự Do Dân Chủ xuất hiện, để gieo những hạt giống diệu kỳ của văn minh dân chủ xuống những vùng đất đầy sỏi đá và gai góc có cơ hội nảy mầm và đơm hoa kết trái. Từ đó mới hy vọng nhìn thấy thời kỳ Phục hưng lại dòng Đạo Lý của Trời và dòng Đạo Lý trong Tâm con người.
Hiện nay tại Việt Nam, Hoa Lục và các nước Á Châu, hình như vẫn chưa thấy những mẫu người đó. Thực dân Tây Phương đã cuốn gói ra đi từ lâu, phát xít Nhật đã quay về với Tự Do Dân Chủ và dồn mọi nỗ lực vào Hiện Đại Hóa, để đi vào cách mạng dân chủ, xây dựng Quốc Gia, và sự thành công của họ đã làm cho cả Thế Giới kinh ngạc và ngưỡng phục. Và cuối cùng là cuộc cách mạng Cộng Sản vô thần tại Việt Nam, Hoa Lục và Bắc Hàn cũng đã chết trong hy vọng và đã chết trong những lời hứa hão huyền đầy dối trá. Những người Cộng Sản không phải con người, đó là những con quái vật đội lốt người đã đến trong xã hội con người để làm tình làm tội xã hội con người. Tất cả đã chết, nhưng tại sao hạt giống diệu kỳ của tự do dân chủ từ hơn nửa thế kỷ qua vẫn chưa nảy mầm được tại Á Châu? Vì thế những con người đang cầm quyền tại Việt Nam, Hoa Lục và Bắc Hàn phải sáng suốt và can đảm nhìn lại những gì mà họ từng tự hào, tự mãn và tự nâng mình lên, để nhìn thẳng vào năm khuyết điểm chết người, để giải phóng mình ra khỏi vòng vây hãm lao lung của gông cùm văn hóa sai lầm, lạc hậu và đầy khuyết điểm chết người đó. Mẫu người của Tự Do Dân Chủ là mẫu người lý tưởng vô cùng cao quý của thời đại, mà bao tỷ con người đang hướng về, với tất cả tình thương yêu, với tất cả niềm tin và hy vọng. Tiếng nói của lớp người này là tiếng nói của những Công Dân Thế Giới và nó phản ảnh tiếng nói Lương Tâm Chân Chính của các Quốc Gia và khát vọng chung của tất cả nhân loại hiện nay. Đó là tiếng nói của Tự Do, Bình Đẳng, Tình Thương, Đạo Đức và Công Lý.Tiếng nói đó đang được cất lên tại Tunisia, Ai Cập, Yemen, Libya và bây giờ tại Việt Nam, Hoa Lục, Bắc Hàn và các nước Á Châu, tiếng nói cất lên từ những mảnh đất khốn cùng, mà ở đó giá trị con người bị chà đạp, quyền sống thiêng liêng của con người bị tước đoạt và quyền tự do cao quý của con người cũng bị lấy mất đi từ những  bàn tay thô bạo của chính trị bá đạo. Mẫu người Tự Do Dân Chủ ấy sẽ làm chủ đời mình và làm chủ cả một giang sơn gấm vóc đang sống trong đọa đày, tủi nhục và mất mát trăm bề. Đó là những lý do của người Tự Do Dân Chủ đứng ra thách đố với kẻ thù để đòi lại giá trị cho con người, đòi lại quyền sống, đòi lại danh dự sống và đòi lại những quyền mà Đấng Tạo Hóa đã ban cho con cái của Người dưới trần gian này. Vì thế máu của những người tranh đấu đã đổ ra để viết lên những trang sử mới về đạo lý chính trị của thế giới con người. Máu, nước mắt và mồ hôi đã trào dâng từ thời đại này qua thời đại khác, từ thế hệ này qua thế hệ khác và đã kéo dài từ 3500 năm nay. Và tất cả những dòng máu, mồ hôi và nước mắt ấy thiêng liêng và mầu nhiệm biết bao, vì nó đã làm nên lịch sử văn minh Dân Chủ cho tất cả nhân loại. Nền văn minh này cũng phải được địa phương hóa để phù hợp với các nền văn minh và văn hóa của các chủng tộc .
Cuối cùng, phải tìm mọi cách để nhìn thấy thật rõ những khó khăn và trở ngại phát sinh từ năm khuyết điểm trầm trọng đó, để đi vào cải cách triệt để về tôn giáo, luật pháp, chính trị, xã hội và giáo dục để cho những hạt giống Tự Do Dân Chủ nảy mầm và đơm hoa, kết trái. Nếu con người muốn chấm dứt đau khổ, nghèo đói, mất hết Tự Do và nhục nhã thì những thay đổi không thể nào tránh được.

KẾT LUẬN
 Nói tóm lại, đứng trước trào lưu lịch sử của văn minh Dân Chủ đang thổi vào lòng người và thổi vào các vùng đất ngục tù trên toàn thế giới, nơi có các chế độ độc tài đang giam hãm và tước đoạt những quyền tự nhiên (Natural rights)- không thể không có được- mà Đấng Tạo Hóa đã ban cho tất cả con cái của mình. Lương tâm con người và lương tâm của bao Quốc Gia đang trỗi dậy trước luật của Trời cao, để thấy các chế độ độc tài đã chà đạp lên các luật lệ đó và chà đạp lên cả lương tâm của con người. Vì thế, khát vọng Tự Do Dân Chủ đang dâng tràn để con người
dõng dạc cất lên tiếng nói lương tâm của mỗi con người, lương tâm của Quốc Gia và cũng là lương tâm của thế giới ngày nay- mà Liên Hiệp Quốc là một biểu tượng chói sáng nhất của gia đình nhân loại hiện nay. Nghị quyết của Liên Hiệp Quốc can thiệp quân sự vào Libya để cứu thường dân- đang  bị Kadhafi sát hại để bảo vệ chế độ độc tài của ông- phải chăng đây là tiếng nói lương tâm của cộng đồng nhân loại? Vì thế, các nhà độc tài trên thế giới phải thấy rằng, đã đến lúc phải tuân hành theo tiếng réo gọi lương tâm của con người khắp nơi trên thế giới, như
lương tâm của đại gia đình nhân loại (Global conscience), cũng như tuân hành theo tiếng gọi vô ngôn của Trời cao. Họ phải trả lại quyền tự do, quyền bình đẳng và quyền làm chủ Quốc Gia của người dân. Đó là sự đòi hỏi của Luật Tạo Hóa, và Luật Thiên Nhiên đã làm nên trật tự của Trời đất và trật tự của thế giới tự nhiên. Do vậy, trật tự của xã hội và trật tự của mỗi Quốc Gia không thể đi ngược lại với trật tự Thiên Nhiên. Trời đất quý nhất là sự sống hài hòa tốt đẹp của con người với thế giới tự nhiên. Đạo học Đông Phương gọi đó là ĐỨC HIẾU SINH, nên trong Phật giáo có ngũ giới- quan trọng nhất là không được sát sinh. Đã đến
lúc con người phải thấy được rằng Đạo Lý của Trời Đất cũng chỉ là Luật Siêu Nhiên và Luật Thiên Nhiên mà thôi. Sống theo luật lệ ấy là sống theo Đạo Lý, sống trái với Đạo Lý là sống trái với luật lệ tự nhiên.
Con người có thể không thấy được bàn tay vô hình, mầu nhiệm đầy quyền năng của Đấng Tạo Hóa, nhưng con người không thể không thấy sức sống trong thế giới thiên nhiên hữu hình do bàn tay của tạo hóa dựng nên và đang cai quản, cũng như con người không thể không thấy các bậc giáo chủ, các tiên tri, các nhà hiền triết của Đông phương và Tây phương, các bậc thánh nhân, các đạo sư, các triết gia, các tu sĩ, các nhà văn hóa, các học giả hay sử gia chân chính đã đến sống trong thế giới con người và sống trong lịch sử qua tất cả các thời đại. Tất cả đã nói
gì ngoài Đạo Lý của Trời, với hình thức này hay hình thức khác và dưới ngôn ngữ này hay ngôn ngữ khác. Trong lúc tên gọi Đấng Tạo Hóa có 48 ngôn ngữ khác nhau nhưng nhân loại chỉ có một vũ trụ thiên nhiên, đó là nơi trú ngụ duy nhất của toàn thể nhân loại.
Từ bao ngàn năm qua ở Đông phương, con người thường nói đến Đạo Lý nhưng không mấy ai hiểu được Đạo Lý là gì và phần đông con người sống rất xa lạ với Đạo Lý, chỉ vì xưa Lão Tử đã nói “ĐẠO khả ĐẠO phi thường ĐẠO”, ĐẠO mà nói ra thì ĐẠO không còn là ĐẠO nữa. Nhưng nếu ĐẠO không nói ra được thì làm sao con người hiểu được mà sống theo ĐẠO LÝ? Phải chăng đây là chỗ thiếu sót trầm trọng của nền đạo học Đông phương. Trong khi ấy ở Tây phương, Kinh Thánh cũng chỉ đề cập đến Đạo Lý của Trời cao và đã được viết xuống thật rõ ràng- mà ai cũng có thể hiểu được. Có thể nói Thánh Kinh là cuốn sách chứa đựng tất cả luật lệ thiên nhiên trong Trời đất. Trên thực tế, Hoa Kỳ là quốc gia đầu tiên đã khai thác triệt để luật Trời Đất trong Thánh Kinh để làm căn bản XÂY DỰNG QUỐC GIA VÀ XÂY DỰNG TRẬT TỰ MỚI CỦA THẾ GIỚI cho toàn thể gia đình nhân loại (1918-2011). Hoa Kỳ cho thấy sống theo luật lệ hiến pháp Hoa Kỳ là sống theo luật lệ thiên nhiên của Trời đất. Và các luật lệ ấy phần đông người dân Hoa Kỳ đã được dạy dỗ và đều đã hiểu và sống trên những luật lệ đó. Vì thế, cuộc sốngvà trật tự xã hội và trật tự mới của thế giới hiện nay, không đi ngược lại với luật lệ thiên nhiên, tức không đi ngược lại với Đạo Lý của Trời. Thực ra Thánh Kinh của Cựu Ước và tân Ước cũng chỉ nói đến ĐẠO TRỜI như tại Đông phương mà không ai để ý tới. Chỉ khác nhau là Thánh Kinh đã hoàn chỉnh, còn các dòng đạo học Đông phương vẫn còn thiếu sót cần được bổ khuyết. Theo Khổng Tử thì ĐẠO của người là ĐẠO TRỜI “ Thiên giả nhân chi Đạo giả” nhất là thường nói đến “Thiên lý tại nhân tâm”, nhưng cả Lão Tử và Khổng Tử không bàn đến Đạo Trời, thay vì sống phải thờ Trời thì Nho giáo bắt con người phải thờ vua. Thay vì xây dựng trật tự xã hội theo trật tự thiên nhiên, thì các xã hội Đông Phương xây dựng trật tự xã hội trên TRẬT TỰ QUÂN-THẦN. Đó là chỗ mất mát thật khủng khiếp của văn minh Trung Hoa, mà không có mấy ai nhận ra sự thật này. Bởi vì trong cách mạng Dân Chủ Đáy Tầng đưa ra chín mục tiêu, nhưng để đạt đến chín mục tiêu đó, chúng ta phải nhận ra đặc tính lạc hậu của nền văn hóa Đông phương đã đưa đến những hậu quả lịch sử quá tai hại: đó là hệ thống luật pháp rừng rú phản lại luật lệ tự nhiên trong Trời đất và phản lại lương tâm con người. Đặc tính văn hóa lạc hậu này đã kềm hãm và làm suy vong không biết bao nhiêu là tài năng cao quý, tinh hoa của xã hội Đông Phương, và chỉ sản sinh được phần đông tầng lớp Nho quan rất kém cỏi. Từ đó, dẫn đến tình trạng dân trí quá thấp kém, vì không có ai dẫn dắt giúp đỡ người dân. Vì không ai muốn bàn đến Đạo - mặc dù vẫn tin vào Đạo Trời- nên mối liên hệ mật thiết giữa người và Tạo Hóa - tức bầu năng lực hay Thần Khí trong vũ trụ - đã bị cắt lìa, và vì thế sức mạnh Tinh Thần và Tâm Linh của con người hoàn toàn bị suy liệt. Bên cạnh đó, là mối tương quan liên hệ, hợp tác xã hội giữa người và người, giữa dân và chính quyền cũng không xây dựng được. Nhu cầu khẩn thiết của lịch sử đang đòi hỏi là phải cải cách triệt để và tích cực về tôn giáo, luật pháp, văn hóa, xã hội và giáo dục để đi vào THỜI KỲ PHỤC HƯNG CÁC DÒNG ĐẠO LÝ VÀ VĂN HÓA ĐÔNG PHƯƠNG, để xây dựng nền Dân Chủ Đáy Tầng, trước khi đi vào hiện đại hóa để phát triển– nếu con người muốn có tự do cho chính mình và cho quốc gia mình, nếu con người muốn giàu sang phú quý cho chính mình và cho quốc gia mình, nếu con người muốn hòa bình cho chính mình và cho quốc gia mình đúng như Skousen đã nhận xét.
 Đó là lý do và mục đích khiến chúng ta đứng ra tranh đấu với chế độ độc tài cộng sản vô thần tại Việt Nam, Hoa Lục, Bắc Hàn và các nước Á Châu – vì những xã hội ấy không có tự do, bất bình đẳng, vô đạo đức, vô luật pháp và bất công. Và cứu cánh tối hậu của cuộc tranh đấu cách mạng này, là thiết lập nên một xã hội có Tự Do, Bình Đẳng, Đạo Đức, Công Lý và Pháp Trị. Chúng ta gọi cuộc cách mạng đó là cuộc cách mạng Dân Chủ Đáy Tầng, vì tất cả mọi giá trị văn hóa, luật pháp, chính
trị, xã hội và quyền hành Quốc Gia đều xuất phát từ DÂN. Muốn bảo vệ được quyền tự do, bình đẳng và quyền làm chủ đất nước cũng như bảo vệ quyền hành và quyền tối thượng của toàn dân thì phải cơ cấu hóa, chính thống hóa và luật pháp hóa tất cả quyền của toàn dân. Khi tất cả quyền hành nằm trong tay của toàn dân thì đó là cấu trúc quyền hành theo hình KIM TỰ THÁP. Cấu trúc quyền hành quốc gia theo mô hình Kim Tự Tháp, thì quyền hành Quốc Gia càng ở trên cao thì càng bị thu hẹp lại, trong lúc càng xuống thấp thì quyền hành càng lớn. Đây chính là căn bản của nền Dân Chủ Đáy Tầng. Khi quyền hành của chính quyền ở Trung Ương bị giới hạn (limited government) và khi có những biện pháp để tam quyền phân lập kiểm soát và chế tài lẫn nhau, để giữ thăng bằng quyền lực quốc gia và giảm thiểu được tối đa sự lạm quyền, cũng như chận đứng được những hành động vi phạm Hiến Pháp của các viên chức chính quyền. Bởi vì như Sir Acton đã đưa ra lời cảnh giác: “ Quyền hành tuyệt đối, sẽ dẫn đến sa đọa tuyệt đối”.Đây là thực tế luôn
luôn xảy ra tại các chế độ độc tài. Trong lúc đó, tại các quốc gia Tự Do Dân Chủ, tất cả quyền hành thuộc về toàn dân, và chính quyền mọi cấp đều được tổ chức theo nguyên tắc phân quyền, và dân phải có những biện pháp hữu hiệu và hợp hiến để kiểm soát quyền hành của chính quyền- khi dân trao quyền cho các viên chức chính quyền để đại diện cho dân. Có như thế, giá trị Dân Chủ Đáy Tầng mới thực hiện được. Nếu dân thiếu ý thức về Dân Chủ Đáy Tầng, thì dân sẽ trở thành nạn nhân của sự lạm quyền mà không làm sao tránh được. Vì thế, nền Dân Chủ Đáy Tầng mới thể hiện được trọn vẹn tinh thần QUAN NHẤT THỜI, DÂN VẠN ĐẠI theo truyền thống đạo lý Việt tự ngàn xưa.
NHÓM NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CHÍNH TRỊ
CHO DÂN CHỦ VIỆT NAM VÀ Á CHÂU








Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét

015004 LĂNG KÍNH LƯỢNG TỬ LUẬN LUẬT QUÂN BÌNH VÀ TRIẾT LÝ ÐẠI HÒA Thái Đông A

013001a NHẬP MÔN

013001a    NGƯỜI VIỆT, TIẾNG VIỆT, ĐẤT NƯỚC VIỆT Một con người chưa hiểu biết về gốc gác của mình chưa thể là con người có văn hóa. Cũng n...